NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ - SỐ 1

(Thông báo khoa học)

 

PGS.TS. Nguyễn Văn Cương (Chủ tịch)

PGS.TS. Nguyễn Văn Cần

PGS.TS. Đinh Thị Vân Chi

PGS.TS. Trần Đức Ngôn ( Ủy viên thường trực)

PGS.TS. Trần Thị Minh Nguyệt

PGS.TS. Phan Văn Tú

PGS.TS. Ngô Văn Giá

TS. Phạm Thị Thu Hương

TS. Nguyễn Thị Việt Hương

TS. Dương Văn Sáu

TS. Đỗ Thị Quyên

 

Chịu trách nhiệm xuất bản:

TS. Nguyễn Văn Cương

 

Chịu trách nhiệm bản thảo:

PGS.TS. NGƯT. Trần Đức Ngôn

 

Thư ký:

TS. Phạm Thị Thu Hương

 

Trình bày:

Trần Quốc Hùng


Thiết kế bìa:

Nguyễn Trần Cường

THƠ LỤC BÁT CỦA NGUYỄN DU VÀ CỦA NGUYỄN DUY CÓ SAI VẦN LUẬT KHÔNG?

HOÀNG KIM NGỌC

 

Nhân đọc tập Tiểu luận phê bình “Nhìn lại bến bờ” do Nxb. Hội Nhà văn ấn hành cuối năm 2008, trong Lời đầu sách Ban biên tập cuốn sách này có viết: “Như bất cứ tác phẩm lí luận phê bình nào, những quan điểm nêu ra trong cuốn sách chỉ là quan điểm cá nhân tác giả. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng tôi mong muốn và chờ đợi những tranh luận khoa học, mang tinh thần dân chủ và trách nhiệm, khởi nguồn từ cuốn sách, có tác dụng hâm nóng không khí học thuật trên văn đàn”, vì vậy, tôi mới nảy ra ý định viết bài này (thực ra không phải nhằm mục đích tranh luận với một ý kiến cá nhân mà tôi chỉ muốn trình bày lại về vấn đề vần luật trong thơ dưới góc nhìn của ngữ âm học).

Tôi xin trích nguyên văn một đoạn của tác giả cuốn sách:

“…Người ta khen Nguyễn Du thì khen viết hay nhưng khen về thi pháp lục bát của Nguyễn Du thì chết chắc! Toàn bộ Truyện Kiều, hơn một nửa sai thi pháp (vì gieo trật luật và cưỡng vận). Trần Đăng Khoa trong “Chân dung và đối thoại” trên web site (annonnymous. Online) cho rằng “Sau kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, những tưởng lục bát đã khép lại, không ai còn dám bén mảng đến chân cái toà lâu đài châu ngọc mà nội thất toàn gấm thêu ấy nữa. Nhưng đâu có phải. Nó còn mở bao nhiêu cánh cửa, hướng ra cõi vô biên. Lục bát còn thử thách bút lực các thi sĩ. Nói một cách thông thái như nhà văn Nguyễn Tuân: Anh là nhà thơ Việt Nam ư? Vậy anh hãy chiềng cho tôi mấy câu lục bát của anh, tôi sẽ nói ngay anh là hạng thi sĩ thế nào?” Lời sư tổ cao ngạo phát khiếp! Hãy xem Nguyễn Du với “kiệt tác Truyện Kiều” của mình gieo vận trong đoạn lấy đại này nha (chưa nói đến luật):

Nghe chàng nói đã hết điều

Hai thân thì cũng quyết theo một i

Hết lời không nhẽ chối lờiCuối đầu nàng những ngắn dài thở than

Nhà vừa mở tiệc đoàn viên

Hoa soi ngọn đuốc, hồng chen bức là.

Người ta nói “ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép người”. Văn là người. Thơ là bộ phận của Văn nên nó cũng có tư cách của một con người. Làm sao mà thoải mái cho những cặp từ sau đây mà đồng âm: điều - theo/ bài - lời/ lời – dài/ than - viên/ viên - chen? Hoạ chăng nói chại theo tiếng Quảng? vời - ngời/ nang - nhoàng, điều - thiều/ bài – lài/ lời – dời/ viên – chiên… còn gì là thơ! Không biết sư ông Nguyễn Tuân cho Nguyễn Du là loại thi sĩ nào đây? Tiếp đến Phạm Quốc Ca… ca “Nhà thơ tài hoa bậc nhất ở thể lục bát trong thời đương đại là Nguyễn Duy” (Mấy nhận xét về thể thơ trữ tình Việt Nam sau 1975 -2000, Văn học Việt Nam sau 1975, Nxb.GD 2006) nghe mà … thất kinh! Nói hay không bằng một thấy! Thử đọc lại bài “Tre Việt Nam” được dùng trong giảng dạy, một bài thơ ý mới và tu từ nhân hoá nhưng thi pháp 6 – 8 thì cưỡng vận sai gần hết bài. Chưa nói tới luật, chỉ nói tới cách gieo vần, Nguyễn Duy nhà ta đã gieo vần như mẹ Cám trộn thóc với đậu mà bắt Tấm nhặt vậy: Này nha (Trích nguyên văn trong trang thơ Nguyễn Duy, annonymous. onlin.fr, trừ màu mè là của người viết):

Mỡ màu ít chất dồn lâu hoá nhiều Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù

Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre kia không ngại khuất mình bóng râm Bão bùng thân bọc lấy thân Tay vin tay níu tre gần nhau thêm

Thương nhau tre chẳng ở riêng Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho con

Loài tre đâu chịu mọc cong Có manh áo cộc tre nhường cho măng

Măng non là búp măng non Đã mang dáng thẳng, thân tròn của tre Năm qua đi, tháng qua đi

Nhìn màu sắc tô đậm (cưỡng vận) của người viết bài này, nào ai có thể cho đây là bài thơ đúng luật 6/8?, chết liền! (…)

Đọc thơ, phân tích, bình thơ, đánh giá người đừng nhìn chúng trong lớp áo chủ nhân là quyền thế, bằng cấp, giải thưởng, huân chương mà hãy đặt chúng ngang hàng cùng một loại thì kết quả mới khả quan! Đừng “thấy người sang bắt quàng làm họ”. Người giầu… cái ấy cũng sang. Kẻ hèn có chữ cũng hàng đứa ngu! (…)” [Nhìn lại bến bờ, Nxb. Hội Nhà văn, H., 2008, tr. 431, 432,433]

Đọc đoạn phê bình trên chắc chúng ta cũng thấy rằng người viết chê những đoạn thơ đó của hai nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Du và Nguyễn Duy là đã gieo vần không đúng luật vì bị “cưỡng vận” và sai gần hết bài. Vậy, lời nhận xét đó có đúng không?

Trước hết, cần hiểu thế nào là vần thơ?

Vần là sự hoà âm, sự cộng hưởng nhau theo những qui luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định như liên kết các dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp. [ 3, 16]

Cái tạo ra vần thơ chủ yếu là giống nhau ở khuôn vần và khác nhau phụ âm đầu, ví dụ:

Đôi ta làm bạn thong dongNhư đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng(ca dao)

Có trường hợp giống nhau cả phụ âm đầu và khuôn vần nhưng phải khác nhau dấu thanh điệu (hiện tượng này ít hơn), ví dụ:

Cầu cong như chiếc lược ngàSông dài mái tóc cung nga buông h(Nguyễn Bính)

Nếu trùng lặp hoàn toàn cả phụ âm đầu, khuôn vần và thanh điệu thì đó là hiện tượng lặp từ, nghèo nàn về vốn từ và là điều tối kị khi làm thơ, ví dụ:

Lớp ta quyết chí thi đua Giành giải học giỏi, thi đua nhất trường

Trong thơ lục bát, âm tiết cuối câu 6 vần với âm tiết cuối câu 8. Âm tiết cuối câu 8 lại vần với âm tiết cuối của câu 6 tiếp theo. Chữ kết thúc của các câu bao giờ cũng là thanh bằng. Nếu chữ kết thúc các câu là thanh trắc thì đọc lên nghe rất ngang tai, mà nếu muốn “thuận lỗ nhĩ” thì phải đọc theo kiểu thơ… Bút Tre, ví dụ:

Em là cô giáo dạy toan (toán) Suốt ngày công thức với toàn số liêu (liệu) Nhiều lúc như khóc như mêu (mếu) Học sinh không hiểu vẫn kêu khó lằm (lắm) Đã giảng đến năm bảy lần Học sinh vẫn bảo cô cần giảng lai (lại)

Một điều đáng lưu ý là: hai âm tiết làm vần thơ trong câu bát bao giờ cũng cùng âm điệu và đối lập nhau về âm vực, tức là cùng mang thanh bằng nhưng nếu âm tiết thứ 6 của câu bát mang thanh cao thì âm tiết thứ 8 của câu bát lại mang thanh thấp và ngược lại. Hay nói khác đi nếu âm tiết thứ 6 của câu bát mang thanh không dấu thì âm tiết thứ 8 trong câu bát mang thanh huyền và ngược lại.

Dưới góc nhìn của ngữ âm học, chúng ta có thể thấy: Những nguyên âm làm âm chính trong những âm tiết gieo vần với nhau thường đồng nhất cùng hàng hoặc cùng độ mở.

Căn cứ vào vị trí cấu âm, độ nâng của mặt lưỡi và độ mở rộng hay hẹp của miệng, các nguyên âm chia ra:

- Nhóm nguyên âm hàng trước không tròn môi: i, ê, e, iê, ia

- Nhóm nguyên âm hàng sau tròn môi: u, ô, o, uô, ua

- Nhóm nguyên âm hàng sau không tròn môi: ư, ơ, â, a, ă, ươ, ưa

- Nhóm nguyên âm hẹp: i, ư, u, iê, ươ, ưa

- Nhóm nguyên âm hơi hẹp: ê, ơ, â, ô

(Nhóm hẹp và hơi hẹp còn gọi là nhóm nguyên âm tối thường gợi cảm giác u ám, tối tăm, buồn bã…)

- Nhóm nguyên âm rộng: a, ă

- Nhóm nguyên âm hơi rộng: e, o

(Nhóm rộng và hơi rộng còn gọi là nhóm nguyên âm sáng, thường gợi cảm giác rộng rãi, sáng sủa, vui vẻ…)

Hoặc những phụ âm cuối trong những âm tiết gieo vần với nhau có thể là cùng nhóm phụ âm tắc (p, t, c, ch) hoặc cùng nhóm phụ âm vang (m, n, ng, nh), tuy nhiên với điều kiện âm chính của những âm tiết ấy phải cùng nhóm nguyên âm và cùng nhóm thanh điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc), ví dụ: tan có thể vần với tam, tang, tanh; tắp có thể vần với tắc, tắt; đêm có thể vần với miền, em. [7, 45]

Điều có thể vần với theo; nhiều có thể vần với nghèo vì âm chính e là cùng hàng trước không tròn môi và âm cuối u (trong âm tiết nhiều, điều) và o (trong âm tiết nghèo, theo) tuy hai chữ nhưng là một âm / u / vì âm cuối / u / sẽ được viết là o nếu âm tiết có vần ao hoặc eo

Bài - lời – dài có thể vần vì âm cuối i đồng nhất, âm chính a và ơ cùng nhóm nguyên âm hàng sau không tròn môi

Viên – chen có thể vần được vì âm cuối i đồng nhất, âm chính iê và e cùng nhóm nguyên âm hàng trước không tròn môi

Râm có thể vần được với thân vì âm chính đồng nhất còn âm cuối m n lại cùng nhóm phụ âm vang

Thêm – riêng – nên có thể vần được vì âm chính ê cùng nhóm nguyên âm hàng trước không tròn môi. Và âm cuối m – ng – n lại cùng nhóm phụ âm vang.

Người - đời có thể gieo vần được vì âm chính ươ ơ cùng nhóm nguyên âm hàng sau không tròn môi, âm cuối i đồng nhất.

Tre – đi có thể gieo vần vì âm chính e – i cùng nhóm nguyên âm hàng trước không tròn môi, âm cuối n đồng nhất

Măng – cong có thể gieo vần vì âm chính ă – o cùng nhóm nguyên âm sáng, rộng và âm cuối ng cùng nhóm phụ âm vang

Sau – đâu có thể vần với nhau vì âm cuối u đồng nhất và âm chính ă được viết là a(lưu ý: âm tiết có vần au, ay như đau, tay thì âm chính ă được viết là a, đau tay đáng lẽ phải được viết là đău tăi) trong âm tiết sau và âm chính â trong âm tiết đâu cùng nhóm nguyên âm hàng sau không tròn môi. Nếu có băn khoăn thì có lẽ là ở hai âm tiết cong - nhường trong câu thơ sau của Nguyễn Duy:

Loài tre đâu chịu mọc congCó manh áo cộc tre nhường cho măng

Tất nhiên cong - nhường không vần được với nhau rồi, nhưng đây lại là câu thơ mà người phê bình đã dẫn nguồn sai. Đúng ra phải là:

Loài tre đâu chịu mọc congChưa lên đã nhọn như chông lạ thườngLưng trần phơi nắng phơi sươngCó manh áo cộc tre nhường cho măng

thì cong chông hoàn toàn có thể gieo vần với nhau. Vì âm chính của cong o và âm chính của chông ô đều cùng nhóm nguyên âm hàng sau tròn môi; âm cuối ng lại hoàn toàn đồng nhất. Còn các âm tiết thường, sương, nhường mà gieo vần với nhau thì quá chuẩn rồi, không nên bàn cãi nữa.

Tất cả bài thơ “Tre Việt Nam” có 30 câu với 15 cặp lục bát, bao gồm 15 cặp âm tiết gieo vần, toàn bài gieo vần đều đúng nguyên tắc ngữ âm học. Nếu có ép vần, cưỡng vận thì hình như chỉ có cặp xanh – mình trong thơ Nguyễn Duy:

Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre kia không tự khuất mình bóng râm

và cặp âm tiết than – viên vắt vần ở chữ cuối câu 8 dòng trên với chữ cuối câu 6 dòng dưới trong thơ Nguyễn Du:

Hết lời không nhẽ chối lời

Cuối đầu nàng những ngắn dài thở than

Nhà vừa mở tiệc đoàn viên

Hoa soi ngọn đuốc hồng chen bức là

Nhưng tại sao đọc những câu thơ này vẫn không thấy ngang tai? Có lẽ tại vì âm cuối của xanh mình; than - viên đều đồng nhất và hai cặp âm tiết này đều cùng nhóm thanh bằng. Phải chăng những âm tiết gieo vần với nhau thì âm cuối và thanh điệu có vai trò quyết định chính(?). Hãy so sánh: tin với tim có thể gieo vần nhưng tim với tím thì không thể.

Cả một “Truyện Kiều” mấy nghìn câu, có một số vận mẫu mà tác giả kia coi là …sai thi pháp thì dưới góc nhìn ngữ âm học, gieo vần như thế đâu có gì sai?

Có lẽ không nên lớn tiếng chê vần luật thơ lục bát của Nguyễn Du và Nguyễn Duy quá lên như vậy!

Chúng ta vẫn hoàn toàn có thể tự hào về thơ lục bát cổ điển của Nguyễn Du và thơ lục bát đương đại của Nguyễn Duy, thể thơ mà chỉ Việt Nam mới có.

HKN

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Quốc Ca, Mấy nhận xét về thể thơ trong thơ trữ tình Việt Nam 1975-2000 (in trong Văn học Việt Nam sau 1975), Nxb. Giáo dục, H., 2006.

2. Mai Ngọc Chừ, Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb. Văn hoá thông tin, H., 2005.

3. Nguyễn Duy, Cây tre Việt Nam (in trong Tiếng Việt lớp 4, sách giáo khoa, Nxb. Giáo dục, H., 2008).

4. Nguyễn Thiện Giáp, Giáo trình Ngôn ngữ học, Nxb. Đại học Quốc gia, H., 2008.

5. Ngọc Thiên Hoa, Nhìn lại bến bờ, Nxb. Hội Nhà văn, H., 2008.

6. Trần Đăng Khoa, Chân dung và đối thoại 8 (annonymous. Online.fr)

7. Hoàng Kim Ngọc, Quy luật phân bố âm chính, âm cuối, thanh điệu trong những vần thơ Việt Nam, (in trong Giáo trình Tiếng Việt thực hành, Văn hoá Thông tin, H., 2009, tr. 44, 45, 48, 50).

8. Đoàn Thiện Thuật, Ngữ âm học tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia, H., 2003.

 
 

Lượt xem: 2620

Lên đầu trang

 
Trường Đại học Văn Hoá Hà Nội - Hanoi University Of Culture
Địa chỉ: 418 Đường La Thành - Quận Đống Đa - Hà Nội - Việt Nam
Tel:(84-4)38511971 * Fax:(84-4)35141629 * Email daihocvanhoahanoi@huc.edu.vn