NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ - SỐ 6

(Thông báo khoa học)

 

PGS.TS. Nguyễn Văn Cương (Chủ tịch)

PGS.TS. Nguyễn Văn Cần

PGS.TS. Đinh Thị Vân Chi

PGS.TS. Trần Đức Ngôn ( Ủy viên thường trực)

PGS.TS. Trần Thị Minh Nguyệt

PGS.TS. Phan Văn Tú

PGS.TS. Ngô Văn Giá

TS. Phạm Thị Thu Hương

TS. Nguyễn Thị Việt Hương

TS. Dương Văn Sáu

TS. Đỗ Thị Quyên

 

Chịu trách nhiệm xuất bản:

PGS.TS. Nguyễn Văn Cương

 

Chịu trách nhiệm bản thảo:

PGS.TS. Trần Đức Ngôn

 

Thư ký:

TS. Phạm Thị Thu Hương

 

Trình bày:

CTCP Hoa Sách


Thiết kế bìa:

Nguyễn Trần Cường

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ

                                                              NGUYỄN VĂN CƯƠNG

Tóm tắt

 Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Hà Nội đã có những đóng góp đáng kể vào thành tích chung của Thủ đô và cho ngành giáo dục. Tuy nhiên, thực tế vẫn cho thấy, tại các cơ sở giáo dục này đang có sự thiên lệch của giảng viên – lực lượng cơ bản làm công tác nghiên cứu - đối với 2 hoạt động: nghiên cứu và giảng dạy, mà ưu thế thuộc về giảng dạy. Điều này dẫn tới việc các công trình nghiên cứu khoa học không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí chỉ “xếp chật tủ”. Để khắc phục tồn tại, nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học và thực hiện mục tiêu “mỗi trường đại học là một viện nghiên cứu”, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp (cả vĩ mô và vi mô) để những công trình nghiên cứu thực sự đem lại hiệu quả.

Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của nước ta hiện nay, để khoa học, công nghệ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, các nhà nghiên cứu, những người làm công tác khoa học, nhất là giảng viên tại các trường đại học và cao đẳng phải là lực lượng nòng cốt trong việc nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sở dĩ nói giảng viên là lực lượng nòng cốt là bởi ở bậc đại học, người thầy đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ: giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Hai nhiệm vụ này có quan hệ chặt chẽ và tương hỗ lẫn nhau; nếu chỉ thực hiện được một trong hai nhiệm vụ ấy thì có nghĩa, người thầy đó chưa hoàn thành nhiệm vụ của mình. Như vậy, nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu của mỗi giảng viên, nhất là với mục tiêu “mỗi trường đại học là một viện nghiên cứu”.

 Tuy nhiên, trên thực tế, nền giáo dục đại học ở nước ta hiện nay đang thể hiện sự bất cập giữa nghiên cứu và giảng dạy trong đội ngũ giảng viên: tại hầu hết các trường đại học, dường như giảng viên đặt nặng hơn đối với việc giảng dạy và coi nhẹ hoạt động nghiên cứu. Đây chính là điểm hạn chế của chúng ta và nếu không có giải pháp đúng đắn thì những mục tiêu đặt ra đều khó có thể trở thành hiện thực, nhất là việc “phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, mà chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011- 2020 của Đảng đã đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 (tháng 1/2011).

Công bằng mà nói, trong những năm vừa qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng đã có những đóng góp đáng kể vào thành tích chung của ngành giáo dục và nền khoa học nước nhà. Nhiều sáng kiến, phát minh được áp dụng vào thực tế, nhiều kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào các lĩnh vực đã tạo ra hiệu quả nhất định trong đời sống kinh tế- xã hội… . Song, với sự phát triển nhanh chóng của đất nước như hiện nay thì có thể đánh giá một cách thẳng thắn: đội ngũ cán bộ khoa học nói chung, lực lượng giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng nói riêng chưa đáp ứng được yêu cầu ( cả về số lượng và chất lượng) để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã hội. Ở các trường đại học, cao đẳng trực thuộc Đảng ủy khối các trường Đại học, Cao đẳng Hà Nội tình trạng này cũng không khả quan hơn. Mặc dù hiện nay toàn Khối có 1.357 giáo sư và phó giáo sư, 2.947 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; 5.826 thạc sĩ, 9.908 cử nhân, kỹ sư và tương đương (1), với số lượng đề tài, dự án các cấp được thực hiện hàng năm là khá lớn: trong 2 năm (2008- 2009), toàn Khối đã triển khai nghiệm thu 70 đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, hơn 2.000 đề tài cấp Bộ và tương đương, nhiều công trình khoa học những cải tiến ứng dụng được đăng trên các tạp chí danh tiếng thế giới…(2); song ta  nhận thấy vẫn có một tình trạng khá phổ biến, đó là:

- Số lượng giảng viên tham gia (và được tham gia) nghiên cứu không nhiều, một tỷ lệ khá lớn trong số đó chưa thật nhiệt tình và say mê nghiên cứu; vì thế, nhiều công trình nghiên cứu, dù ở những cấp cao như đề tài cấp Bộ… vẫn còn hạn chế về chất lượng nghiên cứu với hàm lượng khoa học thấp.

- Tình trạng đối phó trong nghiên cứu khá phổ biến: Theo quy định của hầu hết các trường, giảng viên phải thực hiện một số lượng giờ nghiên cứu khoa học nhất định, từ đó quy ra phải có bao nhiêu bài báo, đề tài… mang tính chất khoán. Vì thế, nhiều giảng viên chỉ thực hiện cốt cho đủ giờ mà thôi, còn không quan tâm lắm đến chất lượng công trình mà mình công bố. Những bài báo ấy vẫn được đăng, đề tài ấy vẫn được nghiệm thu nhưng nhiều khi do nể nang, quen biết nên người thực hiện vẫn “hoàn thành kế hoạch”.

- Nhiều công trình nghiên cứu không có giá trị: Do tư tưởng đối phó – “làm cho xong”, cũng như nhiều khi mục đích đặt ra nặng về lợi ích kinh tế nên việc “cắt- dán” (copy – paste) hay “xào- nấu lại” là khá phổ biến trong hoạt động nghiên cứu. Một công trình được đánh giá xuất sắc khi nghiệm thu, cũng không hề có những đoạn văn “đạo” nhưng lại chẳng có đóng góp gì mới trên phương diện khoa học. Lý do là bởi kỹ năng và trình độ “nấu” của người thực hiện đề tài đã ở mức chuyên nghiệp. Ngoài ra, việc nghiên cứu những gì “ta có sẵn” cũng được áp dụng để nhằm giảm thiểu chi phí thực hiện…, dẫn tới rất nhiều công trình sau khi nghiệm thu đều được đóng bìa cứng xếp vào tủ kính “nhìn cho đẹp”…Chắc chắn những công trình ấy không thể đem lại nâng cao trình độ của người nghiên cứu, không mang lại hiệu quả mà ngược lại, còn gây lãng phí thời gian và tiền bạc.

Chất lượng thấp của các công trình còn thể hiện qua số lượng các bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế. Theo số liệu của GS. Nguyễn Văn Tuấn - Đại học New South Wales – Australia, tại một Hội thảo do Dự án Giáo dục 2 tổ chức tại Hà Nội vào tháng 12/2010 thì trong vòng 10 năm (1996- 2005), tổng số bài báo khoa học mà Việt Nam công bố là 3456 bài, trong đó nhiều nhất là thuộc lĩnh vực Y sinh (24,3%), rồi đến Vật lý, Hoá học, Nông nghiệp…, còn khối Kinh tế, Khoa học xã hội và Công nghệ sinh học chỉ có lần lượt 2,5%, 1,6% và 1,3%! Như vậy, trung bình mỗi năm chúng ta chỉ có hơn 345 bài báo được công bố, đó là chưa tính đến số lượng và số lượt các bài được trích dẫn cũng rất thấp (23,1% chưa được trích dẫn lần nào, 44,5% được trích từ 1 – 5 lần).

- Sự gắn kết giữa nghiên cứu và giảng dạy còn thấp:Nhiều giảng viên theo đuổi hướng nghiên cứu khác xa với môn học do mình đảm nhiệm nên mục tiêu “bổ sung cho nội dung giảng dạy” sau khi nghiên cứu không đem lại kết quả. Cũng tương tự như vậy, trong một số trường đại học còn cả các viện nghiên cứu nhưng việc gắn kết, sử dụng các kết quả nghiên cứu phục vụ giảng dạy và học tập còn chưa được đặt ra: người giảng dạy vẫn giảng dạy còn người nghiên cứu vẫn nghiên cứu một cách độc lập, tách rời nhau.

- Đa số các nghiên cứu chưa hướng tới phục vụ trực tiếp cho địa phương nơi trường đang tọa lạc: Những năm gần đây, tuy đã có những công trình của một số các trường trên địa bàn Thủ đô đã hướng đến giải quyết những vấn đề “nổi cộm”, “cấp thiết” của thành phố và có những đóng góp nhất định, nhưng số lượng đề tài còn chưa tương xứng với tiềm năng của các nhà khoa học. Thực tế cho thấy, Thành phố vẫn còn nhiều vấn đề cấp thiết chưa được giải quyết, trong khi đó, phần lớn các nghiên cứu đều có đối tượng, phạm vi nghiên cứu rộng hơn hoặc ở bên ngoài Hà Nội. Điều đó không những không mang lại lợi ích cho Thủ đô mà nhiều khi, do khoảng cách quá xa, điều kiện đi lại không thuận lợi và nguốn kinh phí có hạn, nên số liệu cũng như giải pháp đưa ra thiếu tính thực tế, dẫn tới kém giá trị và tính khả thi không cao.

 Sở dĩ có tình trạng này, theo chúng tôi, là do một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

- Hầu hết các giảng viên có khả năng nghiên cứu (và đủ điều kiện để được duyệt thực hiện đề tài) đều là những người đã có thâm niên công tác, có học hàm, học vị và cả thành tích nghiên cứu cũng như giảng dạy…; tuy nhiên, họ lại thường là lãnh đạo, quản lý nên thời gian dành cho nghiên cứu thường không nhiều và phải “tranh thủ”.

- Giảng viên phải giảng dạy quá nhiều: Theo Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, giảng viên có chức danh càng cao thì số giờ giảng dạy càng nhiều (Giáo sư, GVCC = 360 giờ; Phó giáo sư, GVC = 320 giờ ; Giảng viên = 280 giờ). Đây đã là số giờ chuẩn tương đối nhiều, song trên thực tế, ở khá nhiều trường đại học, cao đẳng, số giờ mà giảng viên thực dạy còn lớn hơn nữa, thường là gấp đôi số định mức, thậm chí có người dạy tới 1.000 – 1.500 tiết/năm. Với số giờ giảng  nhiều như vậy nên giảng viên không còn thời gian (và cả sức lực) dành cho việc nghiên cứu.

- Chất lượng của đội ngũ giảng viên: Theo số liệu báo cáo đã nêu, tính đến 8/2010, toàn Khối có tổng số 20.038 giảng viên đang giảng dạy, nghiên cứu trong các trường đại học, cao đẳng; trong đó, số giáo sư và phó giáo sư là 1.357 (chiếm 6,77%), 2.947 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học (chiếm 14,71%), 5.826 thạc sĩ (chiếm 29,07%). Với tỷ lệ này thì rõ ràng, việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và chất lượng nghiên cứu khoa học cũng là vấn đề khá khó khăn, bởi nếu để giảng dạy thì có thể chỉ cần đến trình độ thạc sĩ, nhưng để nghiên cứu và nghiên cứu có chất lượng thì phải cần có học vị cao hơn (mặc dù không thể phủ nhận, vẫn có những nhà nghiên cứu xuất sắc dù học vị của họ không cao). Thêm vào đó, trình độ ngoại ngữ và khả năng sử dụng internet của một bộ phận lớn giáo sư và phó giáo sư còn khá hạn chế ( theo đánh giá của GS-TSKH Đỗ Trần Cát – nguyên Tổng thư ký Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước) nên sẽ gây khó khăn lớn trong việc nghiên cứu.

- Định hướng nghiên cứu khoa học nhưng chưa thật khoa học: Hiện chúng ta vẫn khá phổ biến tình trạng người muốn thực hiện đề tài thì cứ đăng ký theo “thế mạnh”, theo “vốn có sẵn” của mình. Vì thế nên dù hướng nghiên cứu có được thông qua Hội đồng khoa học nhiều lần thì cũng vẫn là xét duyệt theo đăng ký, phụ thuộc vào người đăng ký, chứ ít khi xuất phát từ nhu cầu thực của trường, của ngành hay của xã hội.

- Thù lao được trả chưa xứng với công sức bỏ ra: Kinh phí cấp cho các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ hoặc Thành phố còn tạm ổn cho hoạt động nghiên cứu, nhưng với các công trình nghiên cứu cấp trường hoặc bài báo thì số kinh phí thường rất thấp ( từ 15 - 20 triệu/đề tài và 500.000đ – 700.000đ/bài báo); vì thế, không khuyến khích được giảng viên nghiên cứu và chất lượng công trình cũng không thể cao.

- Thiếu sự liên kết giữa các trường: Hầu hết các trường đều không có sự liên kết, trao đổi nên nhiều khi hướng nghiên cứu bị trùng lặp, nhất là với các trường không cùng Bộ chủ quản. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng lại những kết quả đã công bố và gây ra lãng phí.

- Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Hà Nội với lãnh đạo và các nhà khoa học của các trường:Dù hiện nay ở Hà Nội có một đội ngũ các nhà khoa học đông đảo nhất trong cả nước (chủ yếu là của các trường đại học, cao đẳng), nhưng dường như từ cả 2 phía: Hà Nội và các nhà khoa học (ở 61 trường tại Hà Nội) đều chưa thật sự quan tâm đến việc khai thác chất xám của các nhà khoa học để xây dựng, phát triển Thủ đô và trách nhiệm của mỗi người với tư cách là công dân của Hà Nội. Vì thế, mới chỉ có một số ít nhà khoa học cùng với Thành phố chung tay giải quyết những vấn đề nổi cộm của Thủ đô, còn lại thì hầu như đều đứng ngoài cuộc. Rõ ràng là với tiềm năng của mình, họ có thể cống hiến nhiều hơn cho Hà Nội, nếu có một cơ chế phối hợp chặt chẽ và hiệu quả hơn giữa thành phố với các trường.

Có thể thấy, thực trạng bức tranh nghiên cứu khoa học, công nghệ và nguyên nhân của những hạn chế cần khắc phục đã phân tích ở trên không chỉ đúng với các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Thành phố Hà Nội, mà còn là tình trạng chung của nền khoa học Việt Nam. Để khắc phục trình trạng yếu kém trong hoạt động khoa học và phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ, giảng viên, bài viết xin đưa ra một số giải pháp sau:

- Tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động nghiên cứu: Chính sách này cần thực hiện đồng bộ ở tất cả các cấp, từ việc tăng thêm ngân sách hàng năm của Nhà nước đến việc tăng tỷ lệ ngân sách dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học ở từng trường, tăng kinh phí cho các đề tài nghiên cứu và đầu tư thêm cho các phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu. Tất nhiên, không phải tăng kinh phí một cách “bình quân chủ nghĩa” mà nên đầu tư “có trọng điểm” đối với các đề tài thực sự cần thiết và chắc chắn mang lại hiệu quả nếu được thực hiện tốt. Có như vậy mới khuyến khích được người đảm nhiệm đề tài, nhưng bên cạnh đó, chủ nhiệm đề tài cũng phải là những người có “tâm” và đủ “tầm”.

- Giới hạn giờ giảng của giảng viên: Một nghịch lý đặt ra là với những người có đủ điều kiện và khả năng nghiên cứu thì lại cũng chính họ là những người có thể đảm nhiệm và phải đảm nhiệm số giờ giảng nhiều hơn (theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo); bởi thế, quỹ thời gian của họ được dành phần lớn cho việc giảng dạy. Trong thực tế, giảng viên tại các trường đã và đang giảng dạy rất nhiều giờ (gấp 200%, 300%, thậm chí 400% định mức). Vì thế, thời gian dành cho nghiên cứu hầu như không còn. Để khắc phục tình trạng này, cần có chính sách giới hạn số giờ giảng của giảng viên. Trước hết, Bộ Giáo dục & Đào tạo nên xem xét để giảm định mức giờ giảng của chức danh Giáo sư, Phó giáo sư, để họ dành thời gian nhiều hơn cho việc nghiên cứu. Với các trường, cần có sự khống chế số giờ giảng tối đa được phép của giảng viên, tránh hiện tượng giảng viên chỉ là “thợ dạy”.

- Có cơ chế để quy đổi giờ NCKH thành giờ giảng với một tỷ lệ nhất định, để giảng viên có thể yên tâm hơn khi nghiên cứu mà không lo không đủ giờ giảng theo định mức.

- Tạo điều kiện cho giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học có nhiều cơ hội tiếp xúc, tham gia những hoạt động nghiên cứu, các Hội thảo ở các địa phương trong nước và các nước có nền khoa học và giáo dục phát triển. Cũng có thể tham khảo mô hình của một số trường đại học trên thế giới: dành một khoản ngân sách riêng cho những giảng viên có kết quả nghiên cứu được công nhận rộng rãi ở trong nước và quốc tế. Số tiền này tỷ lệ thuận với số công trình công bố trong năm và đảm bảo cho họ có thể trang trải cho việc tham gia các Hội thảo trong nước (và quốc tế). 

- Cần có định hướng cho hoạt động nghiên cứu: Hiện nay, ta đang theo cơ chế “xét duyệt” nhiệm vụ nghiên cứu và “đấu thầu” đề tài. Việc làm này đã đem lại những tác dụng nhất định trong nghiên cứu; tuy nhiên, như đã trình bày, thường những cá nhân tham gia đều đưa những hướng nghiên cứu vốn là thế mạnh của mình (tất nhiên là phải thuyết phục được Hội đồng xét duyệt về tính cấp thiết), trong khi đó, có nhiều vấn đề thực sự cần thiết và mang lại hiệu quả, nhưng do quá “hóc búa” hoặc khó khăn khi triển khai nên không ai thực hiện. Do vậy, bên cạnh việc đấu thầu đề tài, cần có cơ chế “giao” những đề tài này cho những cá nhân/đơn vị có khả năng thực hiện để tài.

- Kết hợp chặt chẽ giữa trường với viện nghiên cứu  để sử dụng, phổ biến các kết quả nghiên cứu vào giảng dạy và học hỏi thêm kinh nghiệm nghiên cứu.

 -  Có cơ chế, biện pháp phối hợp, trao đổi nghiên cứu giữa các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng và các địa phương khác nói chung. Các trường cùng khối ngành, nhóm ngành có thể phối hợp tổ chức các Hội thảo khoa học, tạo cơ hội cho giảng viên cùng tiến hành các đề tài nghiên cứu, trao đổi giảng viên… để phát huy được thế mạnh của mỗi trường, đồng thời tránh sự trùng lặp, chồng chéo các hướng nghiên cứu, gây lãng phí cả thời gian, chất xám và tiền bạc…

- Lãnh đạo thành phố Hà Nội cần quan tâm và phối hợp chặt chẽ hơn với các trường đóng trên địa bàn để khai thác được thế mạnh của từng trường trong việc nghiên cứu, triển khai để giải quyết các vấn đề cấp thiết của Thành phố bằng cách: Ngoài việc gửi thông báo đề xuất hướng nghiên cứu cho các đơn vị, Sở Khoa học, Công nghệ có thể tổ chức những buổi họp giữa Sở với lãnh đạo các trường để lấy ý kiến của họ về hướng nghiên cứu mới, về những vấn đề cần giải quyết trong thời gian trước mắt; thậm chí có thể “đặt hàng”  các trường về những lĩnh vực mà họ chuyên sâu, như giải quyết vấn đề giao thông, ngập úng, ô nhiễm môi trường hay xây dựng nếp sống văn minh, thanh lịch của người Hà Nội, phát triển du lịch… Nếu có sự phối kết hợp, chúng tôi chắc chắn, các nghiên cứu sẽ đem lại hiệu quả thiết thực hơn.

  Một thực tế rõ ràng là: với 61 trường đại học và cao đẳng đóng trên địa bàn Thành phố Hà Nội, chúng ta có một lực lượng hùng hậu các nhà khoa học, một đội ngũ giảng viên có học hàm, học vị cao và đủ khả năng triển khai các công trình nghiên cứu. Đó là những tiềm năng và thuận lợi để đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học. Vì thế, nếu thực hiện và thực hiện đồng bộ các giải pháp đã nêu thì chắc chắn, bức tranh khoa học của chúng ta sẽ ngày một sáng sủa hơn; và những kết quả mà khoa học, công nghệ tạo ra chắc chắn sẽ phục vụ một cách hiệu quả và thiết thực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội và hội nhập quốc tế mà Đảng ta đã đề ra./.

                                                                                             N.V.C

Chú thích:

1, 2. Theo con số báo cáo tại Đại hội Đảng bộ Khối các Trường Đại học, Cao đẳng Hà Nội lần thứ nhất (nhiệm kỳ 2010 - 2015), tháng 8/2010.

 
 

Lượt xem: 32668

Lên đầu trang

 
Trường Đại học Văn Hoá Hà Nội - Hanoi University Of Culture
Địa chỉ: 418 Đường La Thành - Quận Đống Đa - Hà Nội - Việt Nam
Tel:(84-4)38511971 * Fax:(84-4)35141629 * Email daihocvanhoahanoi@huc.edu.vn 

bao phu nu, bao moi,