KHOA DI SẢN VĂN HÓA





Trưởng khoa
TS. Nguyễn Sỹ Toản

Tel: 04-3851 1971/155/156
Mobi: 0912 233 879
Email: toanns@huc.edu.vn


1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Khoa Di sản văn hóa (tiền thân là Khoa Bảo tàng) được hình thành ngay từ những ngày đầu thành lập Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (26/3/1959). Khoa là cơ sở đào tạo ngành bảo tàng đầu tiên ở Việt nam. Từ khi thành lập đến nay Khoa đã thực hiện đa dạng hóa các hình thức đào tạo nhằm đáp ứng thực tiễn nhu cầu xã hội. Với bề dày hơn 50 năm hình thành và phát triển, Khoa Di sản văn hóa đã đào tạo được hàng ngàn cử nhân ngành Bảo tàng học, cung cấp nguồn nhân lực chính trong hoạt động nghiên cứu và quản lý di sản văn hóa. Quá trình đào tạo của Khoa trải qua các giai đoạn chính như sau:

 

- Giai đoạn 1: 1959 - 1977

Khoa chủ yếu đào tạo các lớp trung cấp, chuyên tu bảo tàng và đặc biệt ngay từ khi thành lập Khoa cũng rất quan tâm đào tạo các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về nghiệp vụ bảo tàng.

- Giai đoạn 2: 1978 - 1992

Khoa đào tạo bậc đại học, sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng Cử nhân Văn hóa ngành Bảo tàng. Đồng thời, giai đoạn này Khoa Di sản văn hóa cũng tiến hành xây dựng các tổ bộ môn Bảo tàng và Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa.

- Giai đoạn 3: 1993 - 2000

Khoa tiếp tục đào tạo bậc đại học (bao gồm cả hệ chính quy và hệ vừa học vừa làm). Năm 1993, Khoa mở đào tạo thêm chuyên ngành Văn hóa du lịch và Thành lập Bộ môn Quản lý - giám định cổ vật thuộc ngành Bảo tàng học. Sau 7 năm đào tạo, đến năm 2000, Nhà trường đã tách riêng chuyên ngành Văn hóa du lịch và thành lập Khoa Văn hóa du lịch thuộc Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Như vậy trong 7 năm giai đoạn này Khoa đào tạo cả Bảo tàng và Văn hóa du lịch.

- Giai đoạn 4: từ năm 2000 đến nay

Khoa triển khai mạnh mẽ sự đa dạng hóa các hình thức đào tạo (ngoài việc duy trì đào tạo chính quy bậc đại học, Khoa cũng rất quan tâm mở rộng liên kết đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn về nghiệp vụ bảo tàng; Giám định, Quản lý cổ vật và đặc biệt Khoa mở đào tạo các lớp bồi dưỡng kiến thức về bảo quản, tu bổ di tích…). Năm 2012, Khoa chính thức đổi tên thành Khoa Di sản Văn hóa và chuyển từ phương thức đào tạo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ. Đây là bước đột phá công tác đào tạo, nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới đào tạo của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nói riêng và xu thế của xã hội nói chung. Từ năm 2014, Khoa thực hiện đào tạo hai ngành Bảo tàng học và Quản lý Văn hóa (chuyên ngành Quản lý nhà nước về di sản văn hóa) góp phần cung cấp thêm nguồn nhân lực có trình độ cho hoạt động quản lý, phát huy giá trị di sản văn hóa, nhằm đáp ứng xu thế hội nhập trong tình hình mới của đất nước.

2. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ ĐƯỢC GIAO

2.1. Chức năng

Khoa Di sản Văn hóa là đơn vị đào tạo chuyên môn theo quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định.

2.2. Nhiệm vụ

- Nghiên cứu đề xuất những vấn đề chuyên môn như: công tác phát triển chuyên ngành, mục tiêu đào tạo, xây dựng nội dung, chương trình các môn học.

- Thực hiện kế hoạch giảng dạy theo quy định chung của Nhà trường.

- Thực hiện công tác quản lý, giáo dục chuyên môn và rèn luyện phẩm chất, đạo đức cho sinh viên.

- Tổ chức thực hiện các chủ trương, chỉ thị của cấp trên trong phạm vi của Khoa.

- Tổ chức biên soạn, in ấn, cung cấp giáo trình, tài liệu tham khảo cho sinh viên theo kế hoạch và chương trình đào tạo của Trường.

3. CƠ CẤU TỔ CHỨC

Ban chủ nhiệm khoa

Trưởng Khoa: TS. Nguyễn Sỹ Toản

Bộ môn Bảo tàng học

Phụ trách bộ môn: TS. Nguyễn Sỹ Toản

Bộ môn Bảo tồn Di tích lịch sử văn hóa

Phụ trách bộ môn: PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến               

4. THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC

4.1. Đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên

Với bề dày đào tạo hơn 50 năm, Khoa Di sản văn hóa đã xây dựng được đội ngũ giảng viên có học hàm, học vị chiếm số lượng lớn nhất so với mặt bằng chung của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Có thể kể đến một số PGS.TS đã có nhiều năm kinh nghiệm công tác giảng dạy tại Khoa Di sản văn hóa như: (Cố) PGS.TS. Phan Khanh – Nguyên giữ các chức vụ sau: Chủ nhiệm Khoa; Quyền Hiệu trưởng Đại học Văn hóa Hà Nội; Vụ trưởng Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch;

PGS.TS. NGƯT. Bùi Tiến – Nguyên Chủ nhiệm Khoa; Trưởng phòng Đào tạo – Đại học Văn hóa Hà Nội; Vụ trưởng Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch;

PGS.TS.NGƯT. Trịnh Thị Minh Đức - Nguyên Phó trưởng Khoa Bảo tàng (nay là Khoa Di sản văn hóa); Trưởng Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội;

 PGS.TS.NGƯT Nguyễn Thị Huệ - Nguyên Chủ nhiệm Khoa;

PGS.TS. Nguyễn Tiến - Phụ trách Bộ môn Bảo tồn di tích;

TS. Nguyễn Thị Minh Lý – Nguyên Tổ trưởng Bộ môn Quản lý và giám định cổ vật...

Đội ngũ giảng viên cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng của Khoa Di sản văn hóa, Đại học Văn hóa Hà Nội từ năm 2008 đến 2013:

Giảng viên cơ hữu: Số lượng giảng viên cơ hữu dao động từ 10 đến 15 giảng viên, trong đó: 03 Phó giáo sư, 02 Tiến sĩ; 10 Thạc sĩ. 

Giảng viên thỉnh giảng: 12-15 giảng viên, trong đó: 05 Phó giáo sư, 04 Tiến sĩ; 04 Thạc sĩ. 

Năm 2014, Khoa có 13 cán bộ, giảng viên. Đội ngũ giảng viên trẻ trong Khoa hiện nay luôn được khuyến khích, tạo điều kiện vừa tham gia giảng dạy, vừa học tập nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Hàng năm, giảng viên khoa Di sản văn hóa đều được tham gia các khóa tập huấn về nghiệp vụ Bảo tàng do các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong nước và nước ngoài giảng dạy. Năm 2012, giảng viên của Khoa tham gia lớp học “Một số nhận thức mới về Bảo tàng học hiện đại” do Bà Joan Bacharach chuyên gia của Hoa Kỳ trực tiếp giảng dạy. Năm 2013, giảng viên của Khoa tham gia lớp học “Giáo dục bảo tàng, vươn tới công chúng và sự tham gia của cộng đồng” do TS. Vivien Marion Goldinh chuyên gia của Anh Quốc trực tiếp giảng dạy.

4.2. Xây dựng chương trình và xuất bản giáo trình

- Chương trình đào tạo của Khoa đã được nhiều lần biên soạn và chỉnh sửa. Chương trình khung của ngành đã được ban hành năm 2008. Năm 2010, Khoa đã xây dựng xong 03 Bộ chương trình giáo dục đại học cho các trình độ Đại học, Cao đẳng và  Liên thông ngành Bảo tàng học. Đầu năm 2013, Khoa Di sản Văn hóa đã hoàn thành xong Bộ đề cương chi tiết các môn học theo hệ thống tín chỉ ngành Bảo tàng học. Khoa Di sản Văn hóa luôn là “lá cờ đầu” trong quá trình xây dựng chương trình, đề cương môn học, biên soạn bài giảng theo hệ thống tín chỉ của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

- Khoa đã xuất bản khoảng 20 đầu sách giáo trình đại học và sách chuyên khảo. Một số giáo trình được xuất bản gần đây như: Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa; Cơ sở bảo tàng học; Đại cương về cổ vật ở Việt Nam; Lịch sử Sự nghiệp Bảo tồn - Bảo tàng Việt Nam; Quản lý bảo tàng; Sưu tầm hiện vật bảo tàng; Tiền cổ học và tiền cổ Việt Nam. Các giáo trình dự kiến sẽ xuất bản: Di sản văn hóa; Quản lý di sản văn hóa; Cổ vật ở Việt Nam; Trưng bày hiện vật bảo tàng; Công tác giáo dục của  bảo tàng; Phát huy giá trị di tích.v.v.

4.3. Hoạt động nghiên cứu khoa học

Đối với giảng viên đại học công tác giảng dạy phải song hành với công tác nghiên cứu khoa học. Vì vậy, ngoài việc giảng dạy đội ngũ giảng viên của Khoa còn tích cực tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, công bố nhiều bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành trong nước và quốc tế. Hàng năm, Khoa thường xuyên tổ chức hội thảo khoa học cấp Khoa của giảng viên. Hội thảo khoa học là môi trường sinh hoạt chuyên môn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giảng viên.

Đến nay, Khoa đã tham gia nghiên cứu thành công khá nhiều đề tài khoa học từ cấp trường đến cấp Nhà nước.

- Đề tài cấp Nhà nước tham gia: 01.

- Đề tài cấp Thành phố: 02.

- Đề tài cấp Bộ: 14.

- Đề tài cấp Trường: 15.

- Các đề tài nghiên cứu nghiệm thu hầu hết được ứng dụng vào thực tiễn nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như việc bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa.

- Nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng đạt được rất nhiều thành tích. Hàng năm, Khoa đều có sinh viên tham dự Hội nghị sinh viên Nghiên cứu khoa học cấp Trường, nhiều sinh viên được nhận giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

4.4. Về đào tạo sinh viên 

Trong quá trình phát triển, Khoa Di sản văn hóa luôn luôn chú trọng nâng cao chất lượng dạy và học. Khoa có nhiều sinh viên ưu tú, đạt được danh hiệu thủ khoa tốt nghiệp của toàn Trường. Việc mở thêm các chuyên ngành đào tạo mới và cam kết đảm bảo thực hiện tốt chuẩn đầu ra phù hợp với bối cảnh xã hội góp phần nâng cao uy tín và thương hiệu đào tạo của Khoa, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên có thêm nhiều cơ hội được tuyển dụng vào các cơ quan, đảm nhiệm các vị trí xã hội cũng như tiếp tục học tập, nâng cao trình độ.

Khoa Di sản văn hóa là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn nhất, có uy tín của ngành Di sản văn hóa. Hàng ngàn sinh viên của Khoa đã tốt nghiệp và công tác khắp mọi miền Tổ quốc. Tại các cơ quan như Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các bảo tàng, các ban quản lý di tích và danh lam thắng cảnh trên phạm vi cả nước..., đều thấy sự hiện diện của những cán bộ đã từng học tập tại Khoa Di sản văn hóa. Rất nhiều cựu sinh viên của Khoa đã và đang thành đạt trong công tác, đảm trách những vị trí quan trọng tại các cơ quan, đơn vị, địa phương.

Bên cạnh đó, Khoa cũng góp phần đáng kể vào việc đào tạo nguồn nhân lực ngành bảo tàng cho các nước bạn: Lào, Campuchia. Một số cựu sinh viên của Khoa sau khi tốt nghiệp đã về nước công tác, sau đó trở lại Việt Nam học tiếp Sau đại học, hiện nay rất thành đạt và đang giữ những trọng trách trong ngành văn hóa.

4.4. Một số hoạt động khác

Để góp phần giảng dạy lý thuyết gắn với thực tiễn giảng viên trong Khoa tham gia trực tiếp một số hoạt động như:

- Khai quật khảo cổ Khu di tích Hoàng thành Thăng Long năm 2003. 

- Thực hiện chủ trương đổi mới hoạt động của bảo tàng; tham gia sưu tầm, tổng kiểm kê hiện vật tại các di tích lịch sử văn hóa ở một số tỉnh/thành phố.

- Tham gia các dự án điều tra, phân loại giám định, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cho nhiều tỉnh/thành.

- Tham gia xây dựng nhà truyền thống cho một số quận, huyện và các cơ quan công an trên địa bàn thành phố và các tỉnh lân cận.

5. NGÀNH VÀ CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO

Từ năm học 2014 – 2015, Khoa Di sản văn hóa thực hiện đào tạo hai ngành Bảo tàng họcQuản lý Văn hóa (chuyên ngành Quản lý nhà nước về di sản văn hóa) tạo thêm khả năng cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cho hoạt động quản lý, phát huy giá trị di sản văn hóa

Khoa tuyển sinh khối C và  D1 cho ngành và chuyên ngành.

Ngoài ra, Khoa còn đào tạo các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về Nghiệp vụ bảo tàng; Quản lý và giám định cổ vật; Bảo quản hiện vật bảo tàng; Khai thác và phát huy giá trị của di tích; Bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích...

6. CHUẨN ĐẦU RA

6.1. Yêu cầu về kiến thức:

6.1.1. Nhóm kiến thức chung

- Kiến thức lý luận chính trị về chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Kiến thức cơ bản về đường lối cách mạng, đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Kiến thức cơ bản về luật pháp.

- Kiến thức cơ bản về khoa học xã hội và nhân văn như: văn hóa học, xã hội học, mỹ học, tâm lý học, lịch sử văn minh thế giới, lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam.

- Kiến thức cơ bản về văn hóa khu vực.

6.1.2. Nhóm kiến thức chuyên ngành cơ bản và nâng cao

+ Kiến thức cơ bản về Lịch sử Việt Nam

+ Kiến thức đại cương về Bảo tàng học

+ Kiến thức đại cương về Bảo tồn di tích

+ Kiến thức cơ bản về Di tích lịch sử - văn hóa Việt Nam

+ Kiến thức cơ bản về Cổ vật ở Việt Nam

+ Kiến thức cơ bản về  Di sản văn hóa Việt Nam

+ Kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là kiến thức về lịch sử và văn hóa Việt Nam.

+ Kiến thức lý luận bảo tàng học, nghiệp vụ bảo tàng, bảo tồn di tích và các thành tựu khoa học công nghệ mới để vận dụng vào hoạt động của ngành bảo tàng học Việt Nam.

  6.1.3. Nhóm kiến thức nghiệp vụ ngành:

+ Kiến thức về sưu tầm hiện vật

+ Kiến thức về kiểm kê và bảo quản hiện vật

+ Kiến thức về Trưng bày hiện vật bảo tàng

+ Kiến thức về công tác giáo dục trong bảo tàng

+ Kiến thức về kiểm kê và xếp hạng di tích

+ Kiến thức về tu sửa, bảo quản, phục hồi di tích

+ Kiến thức về khai thác phát huy giá trị di sản văn hóa

6.1.4 Nhóm kiến thức bổ trợ

+ Kiến thức tin học trình độ B.     

+ Kiến thức về tìm kiếm thông tin trên mạng máy tính.

+ Kiến thức về phần mềm quản lý dữ liệu.

+ Kiến thức về xây dựng và bảo mật dữ liệu.

+ Kiến thức xây dựng và quản trị website.

 - Ngoại ngữ: Đạt trình độ kiến thức nhất định, có khả năng giao tiếp và tra cứu phục vụ cho công tác nghiệp vụ chuyên môn.

6.2. Yêu cầu về kỹ năng:

6.2.1. Kỹ năng về nghiệp vụ bảo tàng:

- Tổ chức thực hiện được các khâu công tác nghiệp vụ như: Nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày hiện vật bảo tàng ở hệ thống các bảo tàng công lập và ngoài công lập.

- Tổ chức thực hiện được quy trình nghiên cứu, kiểm kê, phân loại, tu sửa, bảo quản di tích lịch sử văn hóa và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể.

-  Nhận diện phân loại và và có khả năng tổ chức quản lý cổ vật ở Việt Nam.

-  Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục đối với công chúng thông qua các bảo tàng -  di tích và cổ vật ở Việt Nam.

6.2.2.  Kỹ năng công nghệ thông tin:

- Khai thác được các thông tin từ những nguồn khác nhau bổ sung, cập nhật những thông tin thường xuyên.

- Sử dụng được các phần mềm ứng dụng trong công tác quản lý, trưng bày hiện vật bảo tàng,

6.2.3. Các kỹ năng khác

Có kỹ năng làm việc nhóm.

Kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống.

Kỹ năng tư duy biện chứng

Kỹ năng giải quyết vấn đề

Có tác phong làm việc chuyên nghiệp.

6.3. Yêu cầu về thái độ:

- Cử nhân ngành Bảo tàng học có lập trường tư tưởng vững vàng, có tư cách đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh, yêu nghề; Nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa; Có tác phong công nghiệp, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc; Có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, biết phát huy giá trị các loại hình di sản văn hóa Việt Nam; Luôn cập nhật kiến thức mới; ứng dụng sáng tạo những tiến bộ khoa học trong công tác chuyên môn.

6.4. Vị trí làm việc sau khi tốt nghiệp

Sau khi tốt nghiệp ra trường sinh viên ngành Bảo tàng học làm việc được tại các cơ quan sau:

 - Cục Di sản văn hóa

-  Các bảo tàng từ trung ương đến địa phương (bảo tàng công lập; ngoài công lập).

- Ban quản lý di tích tỉnh, thành phố

- Các Trung tâm Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa

-  Phòng Quản lý Di sản văn hóa

-  Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

-  Đài truyền hình (Ban Văn hóa - Xã hội)

-  Các công ty Du lịch (Hướng dẫn viên du lịch)

-  Các Viện Nghiên cứu văn hóa (Viện Khảo cổ học, Viện Văn hóa, Viện Văn hóa - nghệ thuật, viện sử học,…).

-  Giáo viên tại các trường phổ thông và đại học với những chuyên ngành về Di sản văn hóa.

- Phòng Văn hóa & Thông tin các quận, huyện trực thuộc tỉnh, thành phố;

6.5. Khả năng học tập nâng cao trình độ sau khi Tốt nghiệp

Sau khi ra trường, cử nhân Bảo tàng học có đủ điều kiện và khả năng học tập nâng cao trình độ như sau:

-  Đủ trình độ để học bằng đại học thứ 2 của các chuyên ngành liên quan thuộc khối các ngành Khoa học xã hội và Nhân văn.

- Có đủ điều kiện tiếp tục học lên bậc đào tạo Sau đại học (thạc sỹ và tiến sỹ) thuộc các ngành Văn hóa học; Bảo tàng học; Quản lý văn hóa; Lịch sử; nghệ thuật; Dân tộc học; Tôn giáo.v.v.

- Ngoài ra, sinh viên sau khi ra trường có thể tiếp tục học lên các bậc học cao hơn tại các trường Đại học quốc tế với các mã ngành liên quan.

7. HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KHOA

Tiếp nối chặng đường 55 năm xây dựng và phát triển, để phát huy ngày càng tốt hơn vai trò của một trung tâm đào tạo cán bộ có uy tín của ngành, Khoa Di sản văn hóa đã, đang và sẽ triển khai các nội dung sau:

- Đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo theo xu hướng cập nhật – hiện đại và hiệu quả, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội; đồng thời cải tiến phương pháp dạy và học, kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, chú trọng phát triển khả năng tự học, độc lập trong tư duy và nghiên cứu khoa học của sinh viên. 

- Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc đào tạo trình độ Thạc sỹ, Tiến sỹ Bảo tàng học.

- Kiện toàn và nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên cả về số lượng và chất lượng – nhân tố quan trọng trong sự nghiệp “trồng người”. Tạo điều kiện thuận lợi để giảng viên tham gia học tập nghiên cứu ở nước ngoài.

- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, biên soạn và xuất bản thêm nhiều giáo trình, tài liệu tham khảo, phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên.

- Mở rộng mối quan hệ hợp tác với các bảo tàng, các viện nghiên cứu, các cơ quan văn hóa – giáo dục trong và ngoài nước để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học.

8. MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA KHOA

Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên

Nghiệm thu đề tài NCKH cấp Bộ do TS. Nguyễn Sỹ Toản làm chủ nhiệm đề tài

Hội thảo Sinh viên Nghiên cứu khoa học năm 2013

Giảng viên Khoa Di sản Văn hóa tham gia các khóa đào tạo về Bảo tàng học do chuyên gia nước ngoài giảng dạy

Chuyên gia Joan Bacharach trao chứng chỉ cho giảng viên Khoa Di sản Văn hóa tham gia khóa học “Một số nhận thức mới về Bảo tàng học hiện đại”

Hoạt động hợp tác quốc tế

Đoàn cán bộ Viện Nghiên cứu văn hóa Phi vật thể Hàn Quốc làm việc với Khoa Di sản Văn hóa

Một số hình ảnh về những buổi học tập thực tế tại Bảo tàng và di tích lịch sử

Buổi học thực tế tại Bảo tàng Dân tộc học

Buổi học thực tế tại chùa Bút Tháp

Sinh viên thực tập dập bia tại chùa Chài (Bạch Sam tự)

Sinh viên thực tập “giám định” cổ vật 

Hoạt động Đoàn, Hội sinh viên Khoa Di sản văn hóa

Tập thể cán bộ, giảng viên  Khoa Di sản văn hóa

Tra cứu điểm thi 2014
Nhập số báo danh
Tra cứu
Loading
Tuyển sinh 2014 TRA CỨU OPAC TRA CỨU OPAC
Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang truy cập : 413
Lượt truy cập : 20586152
Locations of visitors to this page
 
Trường Đại học Văn Hoá Hà Nội - Hanoi University Of Culture
Địa chỉ: 418 Đường La Thành - Quận Đống Đa - Hà Nội - Việt Nam
Tel:(84-4)38511971 * Fax:(84-4)35141629 * Email daihocvanhoahanoi@huc.edu.vn 

bao phu nu, bao moi,