Đang thực hiện

Top banner

Về những lỗi in sai trong văn bản thơ, ca dao dưới góc nhìn ngôn ngữ học

Đăng ngày: 23/09/2019

 
(ĐHVH HN) - Hiện nay có rất nhiều câu thơ hoặc ca dao rất hay nhưng bị trích dẫn sai khiến nó bị giảm giá trị đi rất nhiều hoặc thậm chí sai logic – ngữ nghĩa. Cũng có trường hợp cùng một bài thơ nhưng lại có nhiều bản in khác nhau vì đã biên tập một đôi chỗ. Vậy, muốn lựa chọn được văn bản in chính xác hoặc bản đã được biên tập, “nhuận sắc” cho hay hơn thì chúng ta có thể dựa vào một số căn cứ  ngôn ngữ để phán đoán và nhận diện như: (1) Căn cứ vào nghĩa biểu niệm, (2) Căn cứ vào ngữ cảnh thơ , (3) Căn cứ vào tần số sử dụng từ ngữ (gene chữ) của tác giả, (4) Căn cứ vào đặc điểm của ngôn ngữ thi ca.

Từ khóa: trích dẫn sai, nghĩa biểu niệm, ngữ cảnh thơ, gene chữ, ngôn ngữ thi ca


Đặt vấn đề
Những câu thơ có thể ra đời từ rất lâu nhưng đã in đậm trong lòng độc giả thì nó vẫn thường được đem ra phân tích cái hay cái đẹp hoặc trích dẫn, tôn vinh. Tuy nhiên, khi đứng trước hai văn bản thơ cùng một nội dung giống nhau nhưng có một vài từ ngữ được viết khác nhau, chúng ta sẽ băn khoăn và đặt câu hỏi: không biết văn bản nào in đúng, văn bản nào in sai; văn bản nào in trước, văn bản nào in sau; văn bản nào chưa được gọt rũa, văn bản nào đã được trau chuốt, biên tập kĩ. Bằng sự mẫn cảm với ngôn ngữ thơ, người đọc đã có thể trả lời các câu hỏi ấy một cách tương đối chính xác trước khi tra cứu tài liệu, thông qua những căn cứ nhận biết sau: (1) Căn cứ vào nghĩa biểu niệm, (2) Căn cứ vào ngữ cảnh thơ, (3) Căn cứ vào tần số sử dụng từ ngữ (gene chữ) của tác giả, (4) Căn cứ vào đặc điểm của ngôn ngữ thi ca.

1.     Căn cứ vào nghĩa biểu niệm

Nghĩa biểu niệm là những hiểu biết về ý nghĩa của từ đã được xác định trong từ điển
Câu thơ trong bài "Nhớ rừng" của Thế Lữ đã bị một tác giả khác dẫn sai là:  "Với cặp báo buồng bên vô tư lự". Câu này không thể có từ buồng được. Bởi “buồng” là “phần không gian của nhà được ngăn riêng bằng tường, vách, có công dụng riêng và thường kín đáo” [13,91], đâu phải là nơi nhốt hổ báo. Vậy câu này nếu viết đúng thì chắc chắn phải là:  "Với cặp báo chuồng bên vô tư lự". chuồng là “chỗ được ngăn chắn các phía làm nơi để nhốt giữ hoặc nuôi cầm thú” [14, 185].
Bài thơ Ở nghĩa trang Văn Điển có hai văn bản khác nhau, trong đó câu mở đầu của văn bản 1 Trần Đăng Khoa viết: Người nổi tiếng và người không nổi tiếng/ Đều gặp nhau trắng toát ở nơi này”. Còn ở văn bản 2, câu đó được viết là: “Người hạnh phúc và người đau khổ/ Đều gặp nhau trắng toát ở nơi này”. Giả sử chúng ta đang băn khoăn xem câu nào đã được chính nhà thơ biên tập, trau chuốt lại cho chính xác hơn thì bằng sự mẫn cảm ngôn ngữ, chúng ta có thể nhận thấy rằng: hạnh phúcđau khổ, sự khác biệt của thân phận đó đều có ở tất cả mọi loại người, giàu nghèo, sang hèn, già trẻ, nam nữ. Còn nổi tiếng hay không nổi tiếng không phải là sự khác biệt chủ yếu của mỗi phận người. Vì vậy, văn bản có câu: Người hạnh phúc và người đau khổ/ Đều gặp nhau trắng toát ở nơi này” chắc chắn sẽ là văn bản mới hơn, đã có sự gọt rũa, trau chuốt của chính tác giả.
Tương tự như vậy, hai câu “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén/ Ngày vắng xem hoa, bợ cây" và: Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén/ Ngày vắng xem hoa, bẻ cây” thì câu nào là câu thơ của Nguyễn Trãi được trích dẫn chính xác và câu nào viết sai? Muốn biết đúng, sai thì chúng ta phải xem lại ý nghĩa của hai từ bẻbợ. Từ bẻ có nghĩa là: Gập lại làm cho gẫy [14, 54]. Còn từ bợ có nghĩa là: “Đỡ phía dưới mà nâng lên bằng bàn tay đặt ngửa” [14, 85]. Hữu Đạt, trong một bài viết của mình đã cho rằng: từ bợ mới là từ chính xác, mới gợi đúng phong thái của người anh hùng nhưng có trái tim nghệ sĩ. Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên. Ngày ngày, ông “bợ” hoa vì hoa là cái đẹp mong manh và yếu ớt, cần nâng đỡ. Chữ “bợ” gợi cốt cách thanh cao của nhà hiền triết, còn dùng bẻ thì vô tình đày ải thơ Nguyễn Trãi vào chốn trần tục đầy thô bạo. Viết sai một từ nhưng đã làm thay đổi hoàn toàn nội dung của cả câu thơ. Vì thế, cả người đọc lẫn người viết cần có sự nhạy cảm, tinh tế trong sự cảm nhận ngôn ngữ thơ.
Nói về sự bạc tình, thiếu thủy chung của chồng với vợ, nhân dân ta có bài ca dao:
Khi xưa anh bủng anh beo/ Tay cắp chén thuốc, tay đèo múi chanh/ Bây giờ anh khỏe anh lành/ Anh mê nhan sắc, anh tình phụ tôi”.  Nhưng, bài này lại có bản in là “Anh tham nhan sắc, anh đành phụ tôi. Có lẽ người biên soạn đã nghĩ rằng: lành thì phải vần với đành mới đúng vì tình thì làm sao vần với đành được. Cách hiểu như thế là chưa nắm vững vần luật của thơ, vần anhinh có thể vần được với nhau vì âm cuối đều nằm trong nhóm phụ âm vang (/m/, /n/, /ŋ/). Bên cạnh đó, nếu dùng từ “đành” trong câu ca dao thì không hợp nghĩa bởi từ đành có nghĩa là: “Miễn cưỡng bằng lòng vì suy tính thấy không thể khác được.” [14, 285]
Câu ca dao: Nạ dòng vớ được trai tơ/ Đêm nằm hí hửng như mơ được vàng có người lại viết thành: Nạ dòng lấy được trai tơ/ đêm nằm sung sướng như mơ được vàng đã làm mất đi cái hay, cái tinh tế của tác giả dân gian. Từ vớ có nghĩa là có được một cách không ngờ, rất may mắn [14, 1127] Còn lấy được chỉ là những chữ chung chung, thiếu hình tượng, không khắc họa được tâm trạng nhân vật trong cuộc. Từ hí hửng“có tâm trạng thích thú, thỏa mãn quá mức (thường để lộ ra nét mặt) trước những việc đã đạt được hoặc tin rằng sẽ làm được” [14, 435]. Từ hí hửng đã thể hiện đúng cái niềm vui thực mà như mơ của chị nạ dòng: vui mà vẫn lo lắng bất an, hạnh phúc biết đâu có thể tuột khỏi tầm tay; đó là cái tâm trạng vui mừng mà không thể đem chia sẻ với chồng, cũng không dám bộc lộ với ai. Tâm trạng hí hửng ấy nếu gọi bằng một từ nào khác sẽ làm hỏng hình tượng nghệ thuật. Những từ như hồ hởi, sung sướng, phấn khởi, sung sướng… đặt vào đây sẽ cực kì vô duyên [3, 176].
Nếu lướt qua một số bài trên mạng google, chúng ta dễ dàng nhận thấy lời bài “Khúc hát sông quê” của Nguyễn Trọng Tạo phỏng thơ Lê Huy Mậu đã bị viết sai nhiều chỗ “Cùng một bến sông con trâu đằm, sóng vỗ / Bầy trẻ thơ tắm mát giữa thượng nguồn/ Một dòng xanh trong trẻ mãi đến vô cùng”. Có sự nhầm lẫn này là bởi sóng vỗ là cụm từ “quen tai” nhưng chữ đúng phải là sóng dưới bởi sự đối ứng trong ngôn ngữ thơ, trên (thượng) đối với dưới. Từ giữa có nghĩa là vị trí cách đều hai đầu mút hoặc các điểm ở xung quanh cho nên nói “giữa thượng nguồn” là khó chấp nhận mà phải viết là “phía thượng nguồn” mới đúng vì phía thường có kết hợp với trước, sau, trên, dưới… Sở dĩ có sự nhầm lẫn “Một dòng xanh trong trẻ mãi đến vô cùng” là vì từ mãi có thể kết hợp với tính từ, động từ như “trẻ mãi, giàu mãi, đẹp mãi; chảy mãi, đi mãi, nói mãi …”. Tuy nhiên, nếu xét các từ trong toàn bộ câu thơ thì những từ như “dòng, chảy, đến” cùng một trường liên tưởng: “dòng chảy, chảy đến” chứ không thể là “dòng trẻ, trẻ (mãi) đến” được; (đấy là chưa kể nếu viết là trẻ sẽ bị trùng lặp từ với câu trên cũng có từ trẻ trong trẻ thơ). Vì thế, lời bài hát của Nguyễn Trọng Tạo chính xác là: “Cùng một bến sông con trâu đằm sóng dưới/ Bầy trẻ thơ tắm mát phía thượng nguồn/ Một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng”.

2.     Căn cứ vào ngữ cảnh
Ngữ cảnh chính là bối cảnh ngôn ngữ làm cơ sở cho việc sử dụng từ ngữ và tạo lập lời nói, đồng thời làm căn cứ để lĩnh hội thấu đáo lời nói. Như vậy, để hiểu chính xác nghĩa của một từ, một ngữ hay một câu thì ta phải đặt nó trong quan hệ với những từ, ngữ, câu đứng trước hoặc sau nó.
Khổ thơ: “Người là Cha, là Bác, là Anh / Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ/ Người ngồi đó, với cây chì đỏ/ Vạch đường đi, từng bước, từng giờ...” đã bị nhiều người viết sai chữ nhỏ thành đỏ. Sự nhầm lẫn này không phải không có cơ sở khi “dòng máu đỏlà một cụm từ quen thuộc trong tư duy của chúng ta: máu thì phải đỏ chứ không thể là xanh hay vàng. Tuy nhiên, bằng sự mẫn cảm với ngôn ngữ thơ, ta sẽ nhận thấy, nếu dòng trên đã có từ đỏ, dòng dưới cũng lại có từ đỏ (cây chì đỏ) thì như thế có nghĩa là khổ thơ này bị mắc lỗi trùng lặp từ. Mà một nhà thơ lớn nhiều kinh nghiệm như Tố Hữu chắc chắn không bao giờ phạm lỗi sơ đẳng như thế. Hơn nữa, nếu xét tính đối xứng trong ngôn ngữ thơ thì lớn phải đối với nhỏ chứ không phải đối với đỏ.
Câu thơ của Nguyễn Du: Trời còn để có hôm nay/Tan sương đầu ngõ vén mây giữa giời” bị trích dẫn sai trong Ngày thơ Việt Nam (2017) là: Đời còn để có hôm nay/…”. Căn cứ vào ngữ cảnh, chúng ta biết đây là câu nói của Kim Trọng trong sự vui mừng khôn xiết khi Thúy Kiều được trở về đoàn viên với gia đình. Hàm ý của câu này là những gì xui xẻo, đau buồn mà Kiều từng nếm trải từ nay sẽ lùi xa. Tất cả là do trời định, do mệnh trời: “Ngẫm hay muôn sự tại trời/ Trời kia đã bắt làm người có thân/ Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao.” Vậy từ dùng đúng trong câu trên phải là từ trời chứ không thể là từ đời được.
Hai câu thơ trong bài “Xuân” của Chế Lan Viên cũng bị một nhà thơ trích dẫn sai trong một bài tranh luận học thuật: "Ai đâu trở lại mùa xuân trước/ Nhặt lấy cho tôi những lá vàng/ Với của hoa tươi, muôn cánh rã/ Về đây đem chắn nẻo xuân sang". Sự nhầm lẫn này có lẽ do tiêu đề bài thơ là “Xuân”. Song, căn cứ vào logic - ngữ nghĩa của câu sau với câu trước thì lá vàng là biểu tượng của mùa thu. Vậy, câu đúng phải là: "Ai đâu trở lại mùa thu trước/ Nhặt lấy cho tôi những lá vàng”.
Trong bài “Tiếng sáo thiên thai” của Thế Lữ có một câu cũng được hai nhà thơ tên tuổi trích dẫn khác nhau trong bài viết của họ. Một tác giả viết: "Trời cao xanh ngắt - Ô kìa/ Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai" và một tác giả thì viết: "Trời thu xanh ngắt…”. Vậy giữa caothu, chữ nào là đúng, chữ nào là sai. Nếu căn cứ vào ngữ cảnh thì ngay từ câu đầu của bài thơ, Thế Lữ đã viết: "Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi”. Cho nên từ thu trong "Trời thu xanh ngắt…” chắc chắn là không chính xác.
Bài “Tình già” của Phan Khôi có 108 âm tiết nhưng được rất nhiều văn bản viết khác nhau. Có văn bản chỉ có 9 câu dài chia thành 10 dòng với đầy đủ các dấu câu như dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm phẩy, dấu ngoặc kép, chấm than, gạch đầu dòng [7, 6-7]. Nhưng có văn bản ngắt dòng thành 19 câu [5, 157], 20 câu [ 12,182] và [13, 368. Vậy, số lượng câu thơ, dòng thơ đúng sẽ là bao nhiêu? Căn cứ vào thời điểm bài thơ ra đời năm 1932 và căn cứ vào sự đánh giá của các nhà nghiên cứu coi Phan Khôi là người “khởi xướng ra thơ mới” [10, 31] và coi “Bài thơ Tình già, một dấu ấn kinh điển đặt nền móng cho thơ mới” [4, phần Mục lục] thì ta có thể thấy hình thức bài “Tình già” chỉ có 9 câu dài (10 dòng) sẽ có vẻ “mới” hơn, ít nhất là về hình thức so với việc phân chia bài thơ thành 19, 20 dòng theo thể thơ cũ “lục ngôn cổ phong”.
  1. Căn cứ vào gene chữ của tác giả và sự biên tập
Gene chữ là những chữ quen thuộc mang phong cách tác giả, phong cách văn bản được thể hiện qua số lần xuất hiện trong trường từ vựng của nhà thơ hoặc của một thể loại văn bản.
Bài ca dao: “Ba đồng một mớ trầu cay/ Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?/ Bây giờ em đã có chồng/ Như chim vào lồng như cá cắn câu/ Cá cắn câu biết đâu mà gỡ/ Chim vào lồng biết thuở nào ra?” đã được một nhà thơ bình rất hay nhưng trích dẫn sai là: Ba đồng một nắm trầu cay/ Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Tại sao chúng ta có thể biết được rằng từ “nắm” là từ sai, từ “mớ” mới là từ đúng? Từ mớ là từ cổ, hiện nay ít dùng nhưng lại là một từ quen thuộc trong ca dao. Ví dụ: “Ba đồng một mớ đàn ông/ Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha/ Ba trăm một mụ đàn bà/ Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi. Hơn nữa, từ nắm là từ chỉ một số lượng nhỏ, ít: “lượng vật rời có thể nắm được trong lòng bàn tay” [14, 660], trong khi từ mớ lại có nghĩa là “nhiều lắm” (trăm nghìn vạn mớ).  “Ba đồng” là số ít thì đối lập với nó “một mớ” là số nhiều. Đó là lời trách của cô gái đối với chàng trai, trầu cau rẻ lắm anh ơi, chỉ có “ba đồng một mớ” mà anh không mua để cưới hỏi em để đến bây giờ em đã lỡ bước sang ngang, làm dâu nhà người, tất cả giờ đã muộn rồi, anh còn tiếc nuối làm gì? Thông qua sự đối lập ấy, bài ca dao cho ta thấy giá trầu không càng rẻ thì lỗi của chàng trai càng lớn, sự trách hờn của cô gái càng nhiều.
Khi tranh luận về câu thơ của Lưu Quang Vũ với hai bản in: “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa” và “Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa”, nhiều người đã băn khoăn không biết chữ bùn hay đất cày mới là đúng gene chữ của Lưu Quang Vũ. Chu Văn Sơn đã có một giải pháp đắc địa là tìm nghĩa bằng xét nghiệm ADN, hay nhận diện nghĩa qua gene chữ.
Theo sự thống kê của Chu Văn Sơn, từ bùn trong thơ Lưu Quang Vũ xuất hiện 24 lần và dường như không lần nào thực sự là hiện thân của vẻ đẹp. Trái lại, bùn gợi ra nỗi nhọc nhằn và nhục nhằn, nỗi lam lũ và tủi cực, nỗi thăng trầm và đắng cay. Bùn là hình sắc của thương cảm, xót xa. Từ “bùn” đã được phong cách ngôn ngữ Lưu Quang Vũ lựa chọn. Song, cần khẳng định dứt khoát, trong câu thơ “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa”, thì “bùn” không phải là một ví von của tình yêu để ngợi ca vẻ đẹp tiếng Việt. Vai trò ấy đã có “lụa” đảm đương. Còn “bùn” chính là hình sắc của niềm thương nhằm gợi lên cái thân phận “tiếng Việt xót xa tình”. Vì thế, trong một mạch thơ, mà các nét tươi đẹp cùng vẻ khổ tủi của tiếng mẹ cứ sóng sánh chen cài, trong cùng một hơi thơ, mà nghẹn ngào cứ chen lẫn đắm say: “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa / Óng tre ngà và mềm mại như tơ”…[9].
Đôi khi, nhà thơ tự biên tập hoặc bị/ được người khác biên tập cho phù hợp với tinh thần thời đại hoặc để tránh sự nhạy cảm, suy diễn thái quá. Chẳng hạn, Lưu Quang Vũ đã tự biên tập câu: “Một đảo nhỏ ngoài khơi nhiều kẻ nhận thành “Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng. Nguyễn Việt Chiến cũng đã tự sửa câu “Nếu tổ quốc bị cắt chia từ biển” thành “Nếu tổ quốc đang bão giông từ biển” (trong bài Đất nước nhìn từ biển) bởi lẽ từ bão giông mang nghĩa ẩn dụ, nó không mang nghĩa đen, cụ thể như từ cắt chia.
Nhiều khi, một số câu thơ mang dấu ấn riêng tư, cá nhân quá đậm nét thì cũng sẽ được biên tập để phù hợp hơn với tâm lí chung của nhiều người, để từ đó tác giả cũng sẽ nhận được nhiều hơn sự đồng cảm, tri âm từ độc giả. Chẳng hạn, bài thơ nổi tiếng Em bỏ chồng về ở với tôi không của Đồng Đức Bốn có một bản in 1989 viết:
“Và niềm vui có khi đến bất ngờ/ Tôi lại hát ru em ngủ/ Nhà của em ở giữa phường Trung Tự/ Cây tháp nước bồn hoa còn nhớ chỗ ta ngồi/ Cỏ nát rồi cỏ mới lại sinh sôi/ Hoa vẫn nở mùi hương đằm thắm/ Và tôi tin một ngày gần lắm/ Em bỏ chồng về ở với tôi không?Và một bản in năm 2011 viết là: “Và niềm vui có khi đến bất ngờ/ Tôi lại hát ru em ngủ/ Nhà em ở bên miền quê nhỏ/ Bến nước triền sông còn nhớ chỗ ta ngồi/ Cỏ nát rồi cỏ mới lại sinh sôi/ Hoa vẫn gợi một mùi hương đằm thắm/ Và tôi tin một ngày gần lắm/ Em bỏ chồng về ở với tôi
Nếu phải chọn giữa hai bản in thì có lẽ người đọc nên chọn bản in sau (lưu ý: không phải trường hợp nào cũng chọn bản in sau), bởi lẽ: “tháp nước, bồn hoa, (ở) phường Trung Tự” là những địa chỉ quá cụ thể, quá riêng tư sẽ làm giảm bớt đi sự đồng điệu với độc giả. Hơn nữa, chữ gợi sẽ hay hơn chữ nở bởi nó cùng trường nghĩa với chữ “nhớ”. Bên cạnh đó, câu cuối bài thơ này không thể có chữ “không” bởi đó là một câu khẳng định chứ không phải câu hỏi: “Và tôi tin một ngày gần lắm/ Em bỏ chồng về ở với tôi".

4. Căn cứ vào đặc điểm của ngôn ngữ thi ca

Ngôn ngữ thơ khác với ngôn ngữ văn xuôi hay ngôn ngữ thông thường chính ở những kết hợp từ ngữ lạ hóa hoặc ở sự tương ứng đăng đối.
Trong bài “Đêm thu đọc Ức Trai” của Khương Hữu Dụng có đoạn: “Giấy ố thông già đêm Ức Trai/ Heo may xào xạc cỏ may dài/ Sáu trăm năm bụi thơ còn gió/ Mây trắng vô tâm rải trắng trời” từng bị in sai còn gió thành còn đó và đã làm tác giả rất không hài lòng. Bởi lẽ chữ đó chỉ đơn thuần là một đại từ chỉ định, không có ý nghĩa của một thực từ và là cách hiểu theo nghĩa đen của ngôn ngữ thông thường chứ không phải nghĩa ẩn dụ của ngôn ngữ thơ. Còn gió là còn những luồng không khí chuyển động thổi bay những bụi thơ của Ức Trai để chúng neo bám, ám ảnh vào lòng độc giả sau cả sáu trăm năm khi Nguyễn Trãi từ giã cõi trần nhiều trái ngang, oan khuất.

Tương tự như vậy, trong bài thơ “Côn Sơn”, Khương Hữu Dụng viết: “Lên đỉnh Côn Sơn tìm Nguyễn Trãi/ Trên đầu xanh ngắt một bầu không/ Bàn cờ thế sự quân không động/ Mà thấy quanh mình nỗi bão giông” nhưng đã bị in sai chữ nỗi thành nổi khiến tác giả phiền lòng. Cụm từ “nổi bão giông chỉ đơn thuần là một hiện tượng tự nhiên được phát sinh thành cơn, thành đợt đột ngột. Còn cụm từ “nổi bão giôngí” là muốn nói đến nỗi niềm, nỗi lòng, nỗi đời trước cảnh gian nan, thử thách. Sự in sai khiến Khương Hữu Dụng đau đớn như có ai xúc phạm hay làm đau cơ thể. Cái chữ nổi ấy giày vò cụ, ám ảnh cụ. Sau này khi bài thơ được in lại, cụ đã làm dấu hoa thị ở chữ nỗi và ghi chú thích để người ta không nhầm lẫn [8, 54- 55]
Lại có người thắc mắc rằng từ ghép “nắng chiêm” trong câu thơ của Trần Đăng Khoa: “Trưa nay em đến thăm cô/ Nắng chiêm chín rực đôi bờ phi lao (Bài: Em dâng cô một vòng hoa) phải viết là “lúa chiêm” mới đúng. Tuy nhiên, nếu hiểu như thế thì đó là cách hiểu của ngôn ngữ thông thường, của ngôn ngữ tả thực cụ thể, thấy gì nói đó. Còn nắng chiêm là nắng vụ chiêm, nắng chín rực, màu sắc sáng tươi đã gợi nên được cái vẻ ảo diệu của một kết hợp từ sáng tạo trong thơ.
Câu thơ "Cắn giập cuống chiều" trong bài “Nhật thực” của Vi Thùy Linh là một kết hợp lạ độc đáo nhưng đã từng bị một dịch giả dịch ra tiếng Pháp với nghĩa là cắn giập cuống chiếu (J'écrase des dents les brins de natte). Thụy Khê, một nhà nghiên cứu văn học hải ngoại đã phân tích rất xác đáng về sự khác nhau giữa cắn giập cuống chiềucắn giập cuống chiếu trong ngữ cảnh bài thơ này như sau: “Nếu cắn giập cuống chiếu chỉ là hành động tầm thường, nhỏ nhoi của người con gái hờn dỗi, thì cắn giập cuống chiều là ý thức siêu hình, đưa nàng vào với thời gian và không gian, làm cho nỗi nhớ, nỗi thống khổ trở thành bao la bất tận. Làm sao cắn được chiều, lại còn cuống chiều nữa, câu thơ đã đem lại một hình ảnh siêu thực tuyệt đẹp chưa từng thấy trong thơ.”
Lại nữa, câu thơ: “Đời mình như rượu còn ly cặn/ Hắt toẹt đời đi chẳng nhíu mày” trong bài “Tha lỗi cho ta” của Nguyễn Bắc Sơn cũng bị một tác giả trích dẫn sai: “Đời mình như ly rượu cạn/ Hoắt toẹt đời đi chẳng nhíu mày”.  “Ly rượu cạn” là một cách nói thông thường còn “rượu còn ly cặn” là cách kết hợp từ lạ hóa của ngôn ngữ thơ.
Có thể kể thêm một trường hợp khác nữa, câu thơ "Núi vẫn đôi mà anh mất em" của Vũ Cao được "nhớ" ra thành "Núi vẫn đây mà anh mất em".  Sự nhầm lẫn này thực ra cũng có lí bởi từ vẫn thường kết hợp với động từ: vẫn (ở) đây, vẫn còn đây, vẫn sống, vẫn nghe, vẫn tin, vẫn ăn… mà không kết hợp với danh từ, số từ: vẫn sách, vẫn bút, vẫn em, vẫn anh; vẫn 2, vẫn 10…. Kết hợp “vẫn đây” nghe quen tai, trong khi đó, vẫn đôi” lại nghe khá lạ tai. Tuy nhiên, kết hợp “vẫn đôi” là đúng bởi kết hợp từ ngữ trong thơ không giống với kết hợp từ ngữ thông thường. Hơn nữa, dựa vào ngữ cảnh thì câu "Núi vẫn đôi mà anh mất em" nằm trong bài thơ có tên là “Núi đôi”; do đó “núi đôi” đã trở thành hình tượng chủ đạo của bài thơ: “Lối ta đi giữa hai sườn núi/ Đôi ngọn nên làng gọi núi đôi/ Em vẫn đùa anh sao khéo thế/ Núi chồng núi vợ đứng song đôi.
Trong bài Trưng Nữ Vương của Ngân Giang có câu "Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá/ Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi" bị viết sai thành "Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi"… mà lại được đính lên những quả bóng bay thả trong Ngày thơ Việt Nam. Vẫn biết từ láy “lẻ loi” quen tai người đọc hơn bởi được dùng nhiều. Tuy nhiên, nữ sĩ Ngân Giang chắc sẽ chọn hai chữ lẻ soi chứ không chọn từ lẻ loi bởi ngôn ngữ thơ đòi hỏi sự đa nghĩa, súc tích. Từ lẻ soi có hai nghĩa: lẻ trong lẻ loi, đơn chiếc và soi trong soi bóng, soi sáng, trăng soi. Điều này phù hợp với tâm trạng của nữ chủ tướng Trưng Vương, sau những phút giây chiến thắng khải hoàn, ba quân lui về nghỉ ngơi; cũng là lúc người thiếu phụ này thấy mình hụt hẫng, lẻ loi giống như ánh trăng nghiêng chếch lệch giữa trời soi bóng xuống cô đơn, lạnh vắng.

Kết luận

Tóm lại, người trích dẫn tư liệu thơ có thể dựa vào sự nhạy cảm ngôn ngữ thông qua 4 căn cứ gợi ý đã dẫn ra trong bài viết này để có thể chọn lựa được những câu thơ chính xác và có giá trị thẩm mỹ trong các văn bản thơ có cùng một nội dung nhưng lại có các bản in khác nhau. Tuy nhiên, những gợi ý này chỉ có giá trị tham khảo, bởi thích và chọn lựa văn bản thơ nào còn phụ thuộc vào “gu” thẩm mĩ của người đọc hoặc ý chí của chính tác giả văn bản thơ. Cuối cùng, điều quan trọng nhất là chúng ta không được chủ quan chỉ dựa vào trí nhớ mà cần phải tra cứu tài liệu cẩn thận trước khi trích dẫn hoặc phân tích.
--
Tác giả: PGS.TS Hoàng Kim Ngọc
--
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Hữu Đạt, Nghĩa biểu vật, biểu niệm của từ và việc phân tích chúng trong quá trình tiếp nhận hình tượng thơ, Tạp chí Khoa học ĐHQG, số 1 năm 2007 tr. 14 -21

       2.Bích Hà, Ngày thơ Việt Nam: Hội Nhà văn lên tiếng về việc in sai ảnh, trích sai thơ, Báo Lao động online, 12/2/2017

  1. Minh Hiệu, Sự kết hợp tài tình giữa tính thơ và ngữ điệu đời sống ngôn ngữ thơ ca, in trong Ca dao Việt Nam – Những lời bình, NXB. VHTT, 2000, tr. 171 – 176
  2. Ngô Quang Huy, Tác phẩm Phan Khôi đọc và suy ngẫm (tập 1), Nhà xuất bản Tri thức, 2017
  3. Phan Thị Mỹ Khanh Nhớ cha tôi Phan Khôi, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 157
  4. Thụy Khuê, Vi Thùy Linh, nhục cảm sáng tạo, http://thuykhe.free.fr.stt/v/VTLinh.htmt
  5. Phan Khôi, Tình già in trong Tập văn mùa xuân, báo “Đông tây”, Hà Nội, 1932, tr. 6 – 7
  6. Ý Nhi, Những gương mặt, những câu thơ, NXB Văn nghệ, Tp. HCM, 2008, tr. 54- 55
  7. Chu Văn Sơn, Nhân chuyện “bùn” và “đất cày” trong câu thơ Lưu Quang Vũ, website: Vanvn.Nét, 10/8/2016 
  8.  Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB. Văn học, 2005, 31
  9.  Lê Quang Thái, “Tình già” của Phan Khôi là thơ mới, Tạp chí Sông Hương online, 7/10/2019
  10.  Nguyễn Quang Thắng, Quảng Nam hành trình mở cõi và giữ nước, NXB Tổng hợp tp HCM, 2005, tr.182
  11. Nguyễn Vỹ, Văn Thi Sỹ tiền chiến, NXB Văn học, 2005, tr. 368
  12. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng, 2000

 
ERRORS IN POETIC DOCUMENTS UNDER THE VIEW OF LINGUISTICS

Abstract: At present, there are many verses or poems are misquoted, which leads to a decrease in their value, even misleading their logic and meanings. In some cases, the same poem has many different prints due to some parts have been re-edited. Therefore, if we want to choose the most accurate or best printed document, it is necessary to base on a number of language basis to judge or identify them as: 1. Basing on conceptual meanings, 2. Basing on poetic scenes, 3. Basing on frequency of use (gene letters) by the author, 4. Basing on the characteristics of the poetic language.

Keywords: misquoted, conceptual meanings, poetic scenes, gene letters, poetic language 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lượt xem: 1033
Xem nhiều
Right Tuyen sinh DH
TSNK
Right - tuyen sinh SDH
Right - tuyen sinh VLVH
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 11
Lượt truy cập: 1.807.877