Đang thực hiện

Top banner

Vai trò của tương tác ngang hàng trong dạy và học ngoại ngữ

Đăng ngày: 07/06/2019


 
(ĐHVH HN) - Nâng cao kỹ năng ngôn ngữ cho người học ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai là một nhiệm vụ khó khăn. Nó đòi hỏi người học phải thực hành thường xuyên mới có thể sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác. Tương tác trên lớp là hoạt động quan trọng giúp cho sinh viên có cơ hội được thực hành ngôn ngữ hiệu quả và thụ đắc ngôn ngữ một cách tự nhiên.  Một số nghiên cứu ​​cho rằng sự tương tác giữa giáo viên với sinh viên và tương tác giữa sinh viên với nhau là điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ của sinh viên, dẫn đến việc học ngôn ngữ của họ ngày càng tốt hơn. Đặc biệt, tương tác ngang hàng trong dạy học ngoại ngữ được xem là một trong những chiến lược giảng dạy hữu ích và cần thiết giúp tăng cường quá trình học tập của sinh viên. Thông qua tương tác trên lớp, người học cơ hội tiếp nhận và hiểu được những kiến thức mà giáo viên truyền tải và đồng thời sử dụng những kiến thức đó để tham gia vào các hoạt động học tập. Trong bài viết này, tác giả sẽ đề cập đến vai trò và lợi ích của tương tác ngang hàng trong dạy và học ngoại ngữ.

Định nghĩa và vai trò của tương tác ngang hàng
Trong các tài liệu về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, tương tác ngang hàng được định nghĩa là bất kỳ hoạt động giao tiếp nào được thực hiện giữa người học, trong đó có sự tham gia tối thiểu hoặc không có sự tham gia của giáo viên. Tương tác ngang hàng có thể liên quan đến hai hoặc nhiều người tham gia và khi tham gia vào các hoạt động đó, người học cộng tác với nhau nhằm đạt được mục tiêu học tập chung. Từ ‘ngang hàng’ trong’ tương tác ngang hàng’ được định nghĩa dựa trên sự giống nhau của một hoặc nhiều yếu tố (ví dụ: tuổi tác hoặc kỹ năng) liên quan đến những người tham gia. Trong bài viết này, ‘ngang hàng’ dùng để chỉ người tham gia tương tác là sinh viên, ít nhất một trong số họ sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai hoặc ngoại ngữ.
Các hoạt động tương tác đòi hỏi người tham gia làm việc cùng nhau có thể khác nhau về bản chất. Hoạt động tương tác phổ biến nhất trong các lớp học ngôn ngữ, đó là:  học tập cộng tác, học tập hợp tác hoặc dạy kèm,v.v.
Học tập cộng tác (collaborative learning) là một chiến lược dạy - học tích cực, trong đó các thành viên tham gia hoạt động và học tập cùng nhau trong những nhóm nhỏ (mỗi nhóm bao gồm các thành viên có trình độ và khả năng khác nhau) nhằm mục đích phát triển sự hiểu biết và chiếm lĩnh một nội dung học tập nào đó.
Philip, Adams và Iwashita (2014) phát biểu học hợp tác đòi hỏi sinh viên phải có ý thức tương hỗ và cùng nỗ lực để đạt được mục tiêu học tập chung. Nhiệm vu học tập chỉ có thể hoàn thành khi người học cùng hỗ trợ nhau.
Học tập hợp tác (Cooperative learning) và học tập cộng tác và đôi khi được sử dụng thay thế cho nhau. Philip (2014) cho rằng việc học tập hợp tác không phải lúc nào cũng đòi hỏi sự tương hỗ, và người học không nhất thiết phải cùng trình độ với nhau.
Dạy kèm (peer tutoring) diễn ra khi một sinh viên có trình độ giỏi hơn hỗ trợ những bạn có trình độ thấp hơn để đạt được mục tiêu học tập như mong muốn.
Swain (2000) đã chỉ ra rằng môi trường học tập phải tạo cơ hội cho người học hoặc người sử dụng ngôn ngữ thứ hai tương tác xã hội tích cực với nhau để nắm vững các quy tắc về ngôn ngữ và ngôn ngữ xã hội. Theo Pica (1987) loại hình tương tác xã hội phù hợp nhất với sự phát triển ngôn ngữ đó là loại tương tác mà trong đó những người tham gia phải có chung nhu cầu và mong muốn hiểu nhau. Để hiểu và sử dụng ngôn ngữ thành công, người học phải điều chỉnh cuộc đối thoại sao cho những người cùng tham gia tương tác có thể dễ dàng hiểu được nội dung và thực sự hứng thú lắng nghe để nắm bắt thông tin và có sự trao đổi qua lại.
Doughty & Pica (1986) khẳng định người học sẽ tự động điều chỉnh cuộc đối thoại của mình nếu họ muốn làm rõ, xác nhận, hay kiểm tra mức độ nắm bắt thông tin của người nghe. Do đó, một môi trường học tập hiệu quả là phải tạo cho người học có cơ hội tự xây dựng các cuộc đối thoại hay trao đổi với bạn bè trong lớp để thực hành ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ một cách tự nhiên. Tương tác sẽ trở nên hiệu quả khi người học trao đổi những thông tin hữu ích, cần thiết và gây hứng thú với người nghe. Mặc dù những người tham gia tương tác có thể nhận thức rõ sự chênh lệch về trình độ ngôn ngữ giữa họ. Nhưng họ đều muốn lắng nghe để xem bạn mình chia sẻ thông tin hay ý kiến gì . Vì thế, họ sẽ tự điều chỉnh cuộc đối thoại để có thể hiểu được nhau và lập tức đưa ra ý kiến phản hồi những thông tin mình nghe được. Chính điều này đã tạo ra sự tương tác xã hội có ý nghĩa giữa các sinh viên, khiến họ có động cơ để thực hành ngôn ngữ thường xuyên, đồng thời cải thiện trình độ ngoại ngữ của mình.
Doughty & Pica (1986) đưa ra một vài đoạn trích của các cuộc trò chuyện hai chiều để chứng minh rằng tài liệu học tập trở nên dễ hiểu đối với người học ngôn ngữ thứ hai sau khi họ có sự tương tác với người bản ngữ. Thực tế, trong quá trình tương tác, những người tham gia tương tác sẽ phải sử dụng từ ngữ và diễn đạt sao cho người này có thể hiểu được thông tin mà người kia đưa ra. Có ý kiến cho rằng nếu người bản ngữ giúp người học đọc hiểu tài liệu ngôn ngữ thứ hai, thì người học sẽ hiểu nhanh hơn và có thể sử dụng chính ngôn ngữ ấy để đáp lại. Ví dụ, trong một cuộc trò chuyện giữa người học và người bản ngữ, nếu người học nghe không hiểu thì họ sẽ phải yêu cầu người bản ngữ nhắc lại hoặc điều chỉnh lối diễn đạt sao cho họ có thể hiểu được thông tin. Và khi họ nghe hiểu được thì họ lập tức sẽ tương tác lại. Chính nhờ tương tác qua lại như thế này, người học có cơ hôi thực hành và sử dụng ngày càng thành thạo ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ của mình.
Tương tác giữa người học với nhau không chỉ giúp người học nâng cao trình độ ngoại ngữ hay ngôn ngữ thứ hai mà còn tạo cơ hội cho họ phát triển các kỹ năng tổ chức, lên kế hoạch học tập, kế hoạch phối hợp với người khác, kỹ năng trình bày nhận xét và tiếp thu ý kiến đánh giá của người khác đối với bản thân cũng như cách thức xây dựng tiêu chí học tập và tự đánh giá việc đạt được các tiêu chí học đã xây dựng.
Tóm lại, tương tác ngang hàng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình học tập của mỗi cá nhân người học. Chính nó tạo ra sự phát triển mạnh mẽ nhất ở người học. Do đó, trong quá trình dạy học, giáo viên nên giúp sinh viên tiếp thu và vận dụng kiến thức trên lớp thông qua loại tương tác này. Bởi chỉ khi nào người học tích cực trao đổi, chia sẻ, thậm chí cạnh tranh với nhau trong học tập; chỉ khi nào họ day dứt, băn khăn với vấn đề khắc khoải trong tâm trí, thì khi ấy họ mới thực sự học và cho dù kết quả của các tương tác đó là gì thì cũng đã được xem là thành côn g trong dạy học.
Theo Gebhard (1998) giáo viên cần chú ý đến năm yếu tố sau đây để tổ chức tương tác trên lớp có hiệu quả:
1. Giảm vị trí trung tâm của giáo viên.
2. Đánh giá cao tính độc đáo của từng cá nhân.
3. Tạo cơ hội cho học sinh thể hiện bản thân bằng nhiều cách có ý nghĩa khác nhau.
4. Tạo cơ hội cho học sinh trao đổi thông tin với nhau hoặc với giáo viên.
5. Cho phép sinh viên được lựa chọn nói về cái gì, nói với ai và nói như thế nào.
Lợi ích của tương tác ngang hàng
Một số nghiên cứu về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai chỉ ra được các lợi ích ngôn ngữ thu được thông qua tương tác ngang hàng (tương tác người học- người học) trong các lớp học tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai.
Allwright (1984) cho rằng tương tác giữa người học với người học sẽ thúc đẩy quá trình học tập tích cực trên lớp. Khi người học tham gia vào các hoạt động tương tác, họ sẽ chia sẻ những ý tưởng quan trọng của bản thân họ. Khi đó, hoạt động học sẽ tự khắc diễn ra vì loại tương tác này thu hút người học tham gia một cách hứng thú và nghiêm túc. Allwright nhấn mạnh rằng kết quả tất yếu mà người học thu được từ các hoạt động trên lớp nhằm thúc đẩy sự tương tác giữa người học với người học không nhất thiết phải là kiến thức chiều sâu. Mục đích chính của tương tác trực tiếp trên lớp giữa sinh viên với nhau là nhằm thúc đẩy sinh viên tham gia tích cực và có ý nghĩa vào việc học tập.
Khi người học tự giác và thích thú tham gia thảo luận về các chủ đề được khuyến khích trên lớp thì họ sẽ háo hức chia sẻ những hiểu biết của họ với bạn bè về những vấn đề thảo luận. Kết quả là họ sẽ tiếp thu kiến thức tốt hơn và nhanh hơn. Thông qua tương tác, sinh viên sẽ học hỏi lẫn nhau và học được từ chính hành động nỗ lực trình bày những hiểu biết của mình. Điều này chỉ xảy ra và có hiệu quả khi người học có mục tiêu và chủ đề của các cuộc thảo luận nhóm là kiến thức người học cần lĩnh hội trong bài học. 
Trong các lớp học phi ngôn ngữ, mục đích của việc tổ chức tương tác ngang là để giúp người học hiểu sâu hơn về các chủ đề thảo luận nhóm, cũng là nội dung chính của bài học. Trong các lớp học ngôn ngữ ngoài việc nắm vững được nội dung của bài học, người học còn có cơ hội thực hành các kỹ năng thảo luận của mình.
Kohn & Vajda (1975) cho rằng sự tương tác nhóm trong lớp học tiếng Anh rất quan trọng vì nó tạo cơ hội cho sinh viên làm chủ ngôn ngữ, được điều chỉnh ngôn từ và cách diễn đạt sao cho phù hợp, dễ hiểu với người nghe. Qua đó sinh viên sẽ tiếp thu ngôn ngữ một cách tự nhiên hơn cho dù khả năng ngôn ngữ của mỗi cá nhân khác nhau.
Trong khi tương tác, các sinh viên sẽ giúp đỡ và học hỏi lẫn nhau vì tương tác nhóm đòi hỏi mỗi cá nhân liên tục đưa ra ý kiến, suy nghĩ và quan điểm của mình hướng đến mục tiêu học tập chung. Bên cạnh những lợi ích về ngôn ngữ, Kohn & Vajda (1975) cho rằng tương tác nhóm có thể tạo ra một môi trường tích cực cho sinh viên, giúp họ vượt qua cảm giác tự ti và phát triển hình ảnh tích cực hơn về bản thân và thể hiện được bản sắc của mình. Như vậy, chúng ta không thể phủ nhận được lợi ích mà tương tác ngang hàng đem lại cho sinh viên đó là lợi ích cả về ngôn ngữ và tâm lý. Dạy và học trên lớp dựa vào tương tác này, sinh viên sẽ tham gia tích cực và có ý nghĩa hơn vào các hoạt động học nhằm lĩnh hội kiến thức nhanh hơn.
Ngoài ra, Kohn & Vajda (1975) nhấn mạnh lợi ích của tương tác theo nhóm nhỏ và dạy kèm trong các lớp học tiếng Anh đó là tạo điều kiện cho sinh viên được giao tiếp nhiều hơn. Thông qua các hoạt động này, sinh viên có nhiều cơ hội khác nhau để phát triển và tiếp thu ngôn ngữ một cách toàn diện ở cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc và viết.
Một nghiên cứu gần đây đã chỉ ra chiến lược học hiệu quả giúp sinh viên nắm vững cấu trúc ngôn ngữ (hình thái học, cú pháp học và âm vị học) thông qua tương tác người học- người học. Trong một nghiên cứu với sinh viên Trung Quốc, Wang & Castro (2010)  trình bày cách tương tác trong lớp học, đặc biệt là thông qua hoạt động nhóm nhằm giúp người học nhận ra cấu trúc ngôn ngữ đích. Fang (2010) khẳng định tương tác trên lớp có tác động tích cực đến sự phát triển và tạo thuận lợi cho việc học ngôn ngữ thứ hai vì nó tạo ra bối cảnh học có ý nghĩa, giúp người học nhận ra vai trò vô cùng quan trọng của từ vựng và cấu trúc ngữ pháp để từ đó cần nắm vững chúng.
Ngoài ra, theo Loewen & Basturkmen (2005) thông qua việc tham gia tương tác ngang hàng theo nhóm nhỏ trong các hoạt động viết tiếng Anh, sinh viên chú ý nhiều hơn đến cấu trúc ngôn ngữ nói chung và diễn ngôn nói riêng.
Trong các hoạt động học thông qua tương tác ngang hàng, việc thực hành ngôn ngữ trở nên hiệu quả hơn khi người học sử dụng các chiến lược học tập để đạt được mục tiêu của mình. Chẳng hạn, việc thực hành ngôn ngữ có thể xảy ra thông qua việc lặp lại, sử dụng kiến thức về hình thái từ, sửa lỗi và đưa ra hình thái khác thay thế căn cứ vào loại hoạt động diễn ra trong lớp học ngôn ngữ. Làm việc cùng nhau có nghĩa là người học sẽ sử dụng kiến thức, sự hiểu biết, năng lực tư duy, lập luận, năng lực diễn đạt của họ để giải quyết nhiệm vụ của cả nhóm. Người học sẽ cùng nhau áp dụng các cách giải quyết khác nhau để đạt tối ưu kết quả học tập chung. Do đó, khi người học làm việc cùng nhau, họ có thể hỗ trợ nhau nhằm phát triển tốt hơn khả năng kiểm soát ngôn ngữ của mình.
Tóm lại, dạy và học ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ thông qua tương tác ngang hàng sẽ có nhiều ảnh hưởng tốt đến tính tích cực và tinh thần hợp tác, cộng tác trong hoạt động học tập của sinh viên như sau:
  • Tạo cơ hội cho tất cả sinh viên trong lớp được tham gia nhiều vào các hoạt động học tập trong lớp.
  • Phát huy tối đa tính chủ động sáng tạo và năng lực tư duy và tự giải quyết vấn đề cho sinh viên.
  • Sinh viên học hỏi từ bạn, từ tài liệu sách vở.
  • Rèn luyện tinh thần cộng tác giữa các sinh viên trong lớp đồng thời tăng cường trách nhiệm cá nhân trong tập thể, rèn luyện thói quen biết lắng nghe ý kiến của người khác.
  • Sinh viên có cơ hội rèn luyện và phát triển năng lực diễn đạt ngôn ngữ, sự tự tin trong hoạt động tương tác trên lớp.
  • Sinh viên được rèn luyện đồng thời bốn kỹ năng ngôn ngữ như nghe, nói, đọc và viết.
Kết luận
Việc tổ chức các hoạt động tương tác ngang hàng ( tương tác người học- người học) trong lớp học ngôn ngữ có thể là một nhiệm vụ khó khăn, và nhiều giáo viên mặc dù có nhiều kinh nghiệm về hoạt động tương tác nhưng không có  ý định áp dụng trong quá trình giảng dạy ngoại ngữ. Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích mà loại tương tác này mang lại cho sinh viên trong giờ học ngoại ngữ. Tương tác là một nguồn thực hành giao tiếp quan trọng mà ở đó sinh viên có cơ hội được thử nghiệm ngôn ngữ mới, không thấy ngại khi mắc lỗi. Ngoài ra, tương tác còn giúp phát triển tính tự chủ cho người học, tạo cơ hội cho sinh viên hỗ trợ nhau trong việc học ngôn ngữ của họ. Từ đó, họ cùng nhau phát triển năng lực về ngôn ngữ. Tương tác ngang hàng cung cấp cho người học các cơ hội quí giá để học ngoại ngữ  trong các bối cảnh lớp học khác nhau mà ở đó giáo viên phải nghiên cứu kỹ đối tượng dạy học của họ, mục tiêu giảng dạy và cách tổ chức lớp học để giúp học sinh của mình tương tác có hiệu quả, giúp cho việc học ngoại ngữ ngày càng tốt hơn. Tương tác tích cực diễn ra khi sinh viên và giáo viên có sự chuẩn bị chu đáo cho hoạt động này, sinh viên được tham gia vào các hoạt động hấp dẫn, được chia nhóm phù hợp và được hỗ trợ trong quá trình tương tác. Việc tổ chức các hoạt động tương tác ngang hàng trên lớp đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư và nghiên cứu kỹ về nội dung và phương pháp dạy học của mình. Họ phải cân nhắc cẩn thận để đưa ra các chiến lược phù hợp giúp tổ chức hoạt động tương tác hiệu quả cho sinh viên.
--
Tác giả: Th.S Mai Lan Anh (GV Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Quốc tế)
--
Tài liệu tham khảo
  1. Allwright, R. L. (1984). The importance of interaction in classroom language learning. Applied Linguistics.
  2. Cohen, E. C., Brody, C. M., & Shevin, M. S. (2004). Teaching Cooperative Learning. NewYork: State University Press.
  3. Consolo, D. (2000). Teachers’ action and student oral participation in classroom interaction. In J.K. Hall & L.S. Verplaetse (Eds.), Second and foreign language learning through classroom interaction. Mahweh, N.J.: Lawrence Erlbaum.
  4. Duff, P. A. (2000). Repetition in foreign language classroom interaction. In J.K. Hall & L.S. Verplaetse (Eds.), Second and foreign language learning through classroom interaction. Mahweh, N.J.: Lawrence Erlbaum.
  5. Hall, Joan Kelly (2000). Classroom interaction and additional language learning:Implications for teaching and research. New Jersey: Lawrence Erlbaum Associates.
  6. Swain, M. (2000). The output hypothesis and beyond: Mediating acquisition through collaborative dialogue. In J. Lantolf (Ed.), Sociocultural Theory and Second Language Learning. Oxford: Oxford University Press.
 
 
 
 
 
Lượt xem: 357
Xem nhiều
Right Tuyen sinh DH
TSNK
Right - tuyen sinh SDH
Right - tuyen sinh VLVH
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 26
Lượt truy cập: 1.810.927