Đang thực hiện

Top banner

Sử dụng ngữ cảnh tình huống trong giảng dạy ngữ pháp cho sinh viên không chuyên năm thứ nhất

Đăng ngày: 05/06/2019


                                                                                               
(ĐHVH HN) - Hiện nay, tại các trường đại học ở Việt Nam, tiếng Anh đã trở thành môn học bắt buộc trong chương trình giảng dạy. Việc hình thành và phát triển các kỹ năng cơ bản như Nghe, Nói, Đọc, Viết đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy và học ngoại ngữ. Tuy nhiên, ngữ pháp lại được coi là cơ sở để phát triển các kỹ năng này. Mặc dù vậy, thực tế cho thấy phần đông sinh viên không có hứng thú với các phương pháp giảng dạy ngữ pháp truyền thống như giải thích, yêu cầu học thuộc và làm bài tập. Do đó, làm thế nào để tìm ra phương pháp giảng dạy ngữ pháp hiệu quả là điều vô cùng cần thiết. Bài viết tập trung phân tích việc áp dụng một trong số các hoạt động giao tiếp là sử dụng ngữ cảnh tình huống (situational context) vào giảng dạy ngữ pháp cho sinh viên không chuyên năm thứ nhất với hi vọng phần nào giúp các em học ngữ pháp hiệu quả và thiết thực hơn.
 1.Các khái niệm
1.1.Ngữ pháp (Grammar)
Ngữ pháp là một thuật ngữ rất phổ biến với những người làm việc trong lĩnh vực giảng dạy ngôn ngữ thứ hai. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu vẫn đưa ra các định nghĩa khác nhau về ngữ pháp.
Nhìn chung, ngữ pháp được xem xét như là một tập hợp các quy tắc để tạo thành câu. Ví dụ như trong cuốn từ điển Longman của tiếng Anh đương đại (2009), ngữ pháp được cho là môn học nghiên cứu và thực hành các quy tắc, trong đó các từ thay đổi dạng thức của chúng và kết hợp lại thành câu. Ur (1988) cũng cùng chung quan điểm khi nhận định rằng ngữ pháp là cách mà một ngôn ngữ thao tác và kết hợp các từ (hay đơn vị của từ) để tạo thành những đơn vị dài hơn mang ý nghĩa.
Trong khi đó, tác giả Larsen – Freeman (2003) lại đưa ra cách nhìn nhận khác kết nối ngữ pháp với ngữ cảnh khi cho rằng đó là sự hình thành các mô hình dựa trên những bối cảnh mà trong đó chúng được sử dụng.
1.2.Ngữ cảnh (Context)
Trong cuốn từ điển Longman (2009), ngữ cảnh được định nghĩa là những gì xảy ra trước hoặc sau một từ, một ngữ hay thậm chí một văn bản. Do đó, ngữ cảnh giúp cho việc hiểu ý nghĩa cụ thể của từ, ngữ và văn bản đó.
1.3.Ngữ cảnh tình huống (Situational context)
Theo Olswang (2010), ngữ cảnh tình huống là ngữ cảnh có ảnh hưởng trực tiếp đến giao tiếp như địa điểm (nhà, trường học, rạp hát, v.v.), hoạt động (tiệc tùng, bài giảng, thảo luận, v.v.) và môi trường (thời gian, số người tham gia, v.v.). Do vậy, giảng dạy ngữ pháp dựa vào bối cảnh tình huống là giáo viên sử dụng tình huống đó để đưa ra một vài ví dụ cho việc sử dụng một cấu trúc nhất định. Cụ thể hơn, khi đưa ra một ngữ cảnh tình huống, giáo viên phải cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến bối cảnh như thời gian, địa điểm, số người, v.v.
2.Một số hoạt động giao tiếp trong giảng dạy ngữ pháp
Dạy ngữ pháp dựa vào ngữ cảnh tình huống
Đây là cách rất thông dụng để sinh viên có thể luyện tập, thực hành các hiện tượng ngữ pháp vào những tình huống trong đời sống hiện thực. Nội dung chính của hoạt động này sẽ được trình bày chi tiết trong phần sau.
Dạy ngữ pháp thông qua các câu chuyện
Các câu chuyện có thể được sử dụng để khai thác và minh họa cho các hiện tượng ngữ pháp. Qua đó, sinh viên có thể nắm vững cấu trúc câu, trật tự từ, chính tả và cả những sáng tạo ngôn ngữ của tác giả. Hơn nữa, sinh viên không chỉ học về ngữ pháp mà họ cũng có thể tìm hiểu về truyền thống hoặc văn hóa của các nước khác nhau thông qua các câu chuyện bởi truyện chính là món quà tinh thần của hầu hết các nền văn hóa. Ngoài ra, các câu chuyện cũng cung cấp những bối cảnh thực tế để sinh viên có thể sắm vai thành các nhân vật trong đó. Đặc biệt, kể chuyện cũng là cách rất tốt để thu hút sự chú ý của sinh viên vào bài học, kích thích bầu không khí trong lớp học và giúp sinh viên ghi nhớ các vấn đề ngữ pháp lâu hơn.
Dạy ngữ pháp thông qua các bài hát và cấu trúc có vần điệu
Sử dụng bài hát là một cách rất hiệu quả giúp thay đổi không khí các hoạt động trong lớp học. Nó cũng được coi là nguồn lực quý giá để phát triển khả năng của học sinh không chỉ trong các kỹ năng như nghe, nói, đọc, viết mà còn trong việc học ngữ pháp. Cụ thể: những mẫu câu, cấu trúc, từ loại, v.v. không chỉ được giải thích thông qua các bài hát mà nó còn giúp tạo ra bầu không khí thoải mái cho sinh viên trong lớp học, giúp giảm căng thẳng, mệt mỏi để các em tiếp thu bài hiệu quả hơn. Ngoài ra, sinh viên có thể mở rộng kiến thức văn hóa thông qua việc sử dụng các bài hát.
Tương tự như bài hát, thơ cũng có giá trị ngôn ngữ rất lớn. Sử dụng thơ trong giảng dạy ngữ pháp cũng đem lại hiệu quả không hề nhỏ bởi trong thơ, từ, cụm từ và cấu trúc ngữ pháp được lặp đi lặp lại theo vần điệu, giúp sinh viên nhớ sâu hơn. Tuy vậy, thơ không được xây dựng bởi cú pháp đơn giản nên có thể gây khó khăn cho người học khi muốn hiểu thấu đáo, đặc biệt là với sinh viên năm thứ nhất khi vốn từ vựng và ngữ pháp vẫn còn nhiều hạn chế.
Dạy ngữ pháp thông qua các trò chơi
Vừa học vừa chơi là một cách học ngữ pháp tiếng Anh vô cùng hiệu quả. Thông qua các trò chơi giáo dục, sinh viên sẽ học được cách sử dụng câu, từ, cấu trúc và vận dụng chúng một cách khoa học và chuẩn xác. Ngoài ra, trò chơi giúp mang lại không khí vui vẻ, thư giãn sau những giờ học căng thẳng.
3.Sử dụng ngữ cảnh tình huống trong giảng dạy ngữ pháp cho sinh viên không chuyên 
3.1.Ưu điểm và nhược điểm của việc giảng dạy ngữ pháp dựa vào ngữ cảnh tình huống
Ưu điểm
Dễ ghi nhớ
Rõ ràng việc sắm vai thành các nhân vật trong những tình huống giúp sinh viên ghi nhớ cấu trúc ngữ pháp dễ dàng hơn so với việc lắng nghe, ghi chép, học thuộc và làm bài tập.
Tạo không khí vui vẻ trong giờ học
Ngữ cảnh tình huống giúp cho không khí lớp học trở nên vui vẻ hơn, sôi động hơn. Vì thế, sinh viên cũng tham gia vào bài học hào hứng hơn và khí thế hơn.
Tạo động lực lớn cho sinh viên
Để có thể đóng vai thành các nhân vật trong những tình huống ngữ pháp đòi hỏi sinh viên phải nỗ lực rất nhiều: sinh viên không chỉ phải ghi nhớ mẫu câu, cấu trúc ngữ pháp mà còn phải học cách trình bày, diễn đạt sao cho lưu loát và trôi chảy.
 
Nhược điểm
Tốn thời gian
Sinh viên không chỉ được yêu cầu ghi nhớ các quy tắc ngữ pháp mà còn phải biết thực hành chúng. Mặt khác, việc trình bày tình huống mất nhiều thời gian hơn nhiều so với việc giải thích mẫu câu, cấu trúc. Do đó, giáo viên phải có cách thích hợp để phân bổ thời gian hợp lý trong giờ học.
Khó khăn trong việc chuẩn bị bài giảng
Để có thể sử dụng ngữ cảnh tình huống vào giảng dạy ngữ pháp, giáo viên cần có khả năng tạo ra các cấu trúc ngữ pháp tương đương nhau trong bài học, giúp sinh viên lĩnh hội và thực hành thành thạo.
Hơn nữa, việc lựa chọn ngữ cảnh tình huống phù hợp cũng là một thách thức không nhỏ đối với giáo viên bởi sinh viên năm thứ nhất chỉ có thể thực hành các tình huống quen thuộc và không quá phức tạp. Nếu tình huống hay chủ đề không quen thuộc, sinh viên sẽ không có đủ vốn từ vựng để xây dựng cuộc hội thoại. Bên cạnh đó, không phải tất cả các hiện tượng ngữ pháp đều có thể sử dụng được với các ngữ cảnh tình huống nên giáo viên phải khá linh hoạt để giải quyết những vấn đề này.
3.2.Áp dụng ngữ cảnh tình huống trong giảng dạy ngữ pháp cho sinh viên không chuyên năm thứ nhất
Hiện nay, giáo trình New English File của các tác giả Clive Oxenden, Christina Latham –Koenig và Paul Seligson đang được sử dụng trong nhà trường. Cuốn sách tương đương mức A1 trên Khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR) và dẫn vào mức A2. Giáo trình này được Nhà xuất bản Đại học Oxford xuất bản lần đầu tiên trên toàn thế giới vào năm 2004.
Sách dành cho sinh viên có 9 đơn vị bài học (unit), trong đó mỗi đơn vị được chia thành 4 phần A, B, C, D, ngoại trừ bài học cuối cùng (bài 9). Mục ngữ pháp và các hoạt động liên quan được trình bày khá rõ ràng. Cuối mỗi bài học có phần tiếng Anh thực hành (Practical English) được thiết kế dưới dạng các tình huống hội thoại giúp sinh viên luyện tập cấu trúc ngữ pháp trong bài học.
Bảng tổng hợp sau cho thấy những ngữ cảnh tình huống trong mỗi bài học và các hiện tượng ngữ pháp có liên quan.
 
Đơn vị bài học Tình huống Hiện tượng ngữ pháp
1 Hội thoại tại sân bay giữa hành khách và nhân viên xuất nhập cảnh -Hiện tại đơn của động từ ‘to be’
-Hiện tại tiếp diễn miêu tả dự định, kế hoạch
2 Hội thoại qua điện thoại tại khách sạn giữa khách lưu trú và nhân viên lễ tân -Động từ khuyết thiếu ‘can’ để đề nghị, yêu cầu
 
3 Hội thoại trong nhà hàng giữa khách hàng và người phục vụ để phàn nàn về dịch vụ và đồ ăn -Quá khứ đơn
-Động từ khuyết thiếu ‘could’ đưa ra lời đề nghị lịch sự
4 Chỉ đường cho người khác -Hiện tại đơn
-Mệnh lệnh thức
5 Hội thoại giữa khách và nhân viên bán hàng tại cửa hàng quần áo -Hiện tại đơn miêu tả trạng thái ở hiện tại
-Tính từ sở hữu
6 Hội thoại giữa khách và người bán thuốc tại hiệu thuốc -Hiện tại đơn miêu tả triệu chứng bệnh
-Trạng từ chỉ tần xuất
-Tương lai đơn
7 Hội thoại giữa khách du lịch và nhân viên bán vé về một chuyến đi -Hiện tại đơn cho lịch trình, thời gian biểu
-Động từ khuyết thiếu ‘can’ để đề nghị, yêu cầu
8 Hội thoại qua điện thoại giữa thư ký giám đốc và khách -Hiện tại đơn
-Động từ khuyết thiếu ‘can’ để đề nghị, yêu cầu
 
Tình huống trong bài 1 là cuộc hội thoại giữa một vị khách với nhân viên xuất nhập cảnh tại sân bay. Trong đoạn hội thoại này có sử dụng thì hiện tại tiếp diễn để hỏi về kế hoạch, dự định của vị khách khi cô ấy ở Mỹ như ở thành phố nào, tại khách sạn nào và trong thời gian bao lâu. Ngoài ra, trong đoạn hội thoại, người tham gia dùng thì hiện tại đơn của động từ ‘to be’ để hỏi và trả lời về các thông tin như tên, địa chỉ, số điện thoại, v.v. Việc đóng vai thành các nhân vật trong đoạn hội thoại sẽ giúp sinh viên ghi nhớ và nắm vững cách sử dụng thì hiện tại đơn và hiện tại tiếp diễn.
Trong bài 2, tình huống được đưa ra là cuộc trao đổi giữa nhân viên lễ tân tại khách sạn với khách lưu trú khi khách gọi đồ ăn và phàn nàn về cơ sở vật chất trong phòng ở. Tình huống này giúp sinh viên thực hành cấu trúc ‘Can I….?’ để đưa ra yêu cầu, đề nghị. Trong trường hợp này, giáo viên cũng có thể cung cấp cho sinh viên một số từ vựng liên quan đến các loại thực phẩm như bánh mì kẹp, bánh hăm-bơ-gơ hay các loại salad, v.v.
Ở bài 3, sinh viên sẽ vào vai một vị khách hàng và nhân viên phục vụ tại một nhà hàng. Mục đích của tình huống hội thoại này là giúp sinh viên biết cách sử dụng thì quá khứ đơn khi nói về các món đồ ăn, thức uống đã gọi để phàn nàn về việc nhầm lẫn của người phục vụ. Đoạn hội thoại cũng sử dụng cấu trúc ‘Could I….?’ để sinh viên có thể đưa ra lời yêu cầu lịch sự. Trong bài này, sinh viên cũng được cung cấp thêm từ vựng liên quan đến chủ đề thực phẩm.
Mục đích của phần thực hành trong bài 4 là giúp sinh viên hiểu và biết cách sử dụng ngôn ngữ để chỉ đường cho người khác khi cần thiết hoặc để hỏi đường khi chưa biết hay đi lạc. Chủ đề này khá hữu ích cho sinh viên bởi trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hay gặp phải tình huống trong đó mọi người hỏi nhau đường đi tới một nơi nào đó. Giáo viên có thể cung cấp cho sinh viên một số từ khóa hay các cụm từ hữu ích cho việc chỉ đường như rẽ phải, rẽ trái, đi thẳng, đi vòng, v.v.
Bài 5 đưa ra bối cảnh tại cửa hàng quần áo và cuộc hội thoại giữa khách hàng với nhân viên bán hàng. Tình huống này giúp sinh viên thành thạo việc sử dụng thì hiện tại đơn để nói về chủ đề trang phục như kích cỡ, kiểu dáng, sắc màu, chất liệu, v.v.
Ngữ cảnh tình huống trong bài 6 là cuộc hội thoại giữa một người khách mua thuốc với nhân viên bán hàng tại một hiệu thuốc. Đoạn hội thoại giúp sinh viên thực hành việc sử dụng thì hiện tại đơn kết hợp với các trạng từ chỉ tần xuất để hỏi và miêu tả các triệu chứng của một vài căn bệnh thông thường như đau đầu, đau bụng, đau răng, cảm cúm, ho, sốt, v.v. Trong đoạn hội thoại sinh viên cũng biết cách sử dụng thì tương lai đơn để tiên đoán cho hành động trong tương lai.
Trong bài 7, sinh viên sẽ sắm vai thành các nhân vật là khách du lịch và nhân viên bán vé để tìm hiểu thông tin về một chuyến đi. Tình huống này giúp các em thành thạo việc sử dụng thì hiện tại đơn để hỏi và trả lời về lịch trình hay thời gian biểu của chuyến đi như thời gian, địa điểm, cách thức tiến hành, v.v.
Tình huống ở bài 8 là cuộc hội thoại giữa thư ký giám đốc và một vị khách qua điện thoại. Mục đích của phần này là giúp sinh viên thực hành việc sử dụng động từ khuyết thiếu ‘can’ để đưa ra những lời yêu cầu hay đề nghị.
Trên thực tế, việc áp dụng ngữ cảnh tình huống vào giảng dạy ngữ pháp cho sinh viên năm thứ nhất nhận được sự quan tâm đặc biệt của các em một phần bởi các chủ đề khá quen thuộc mà sinh viên thường gặp trong cuộc sống hàng ngày. Do vậy sinh viên thấy dễ dàng trong việc đưa các kiến thức thực tế vào các cuộc hội thoại. Hơn nữa, việc đóng các vai khác nhau trong mỗi bài học cũng là một điểm thú vị với các em. Qua các tình huống này, sinh viên có thể phát triển sự sáng tạo và năng động cùng với sự tự tin trong việc nói, thuyết trình trước đám đông.

Kết luận
Có thể nói rằng ngữ pháp là nền móng của ngôn ngữ. Bởi vậy, muốn học tốt một ngôn ngữ thì người học trước hết phải học tốt ngữ pháp. Việc sử dụng các hoạt động giao tiếp như ngữ cảnh tình huống để hỗ trợ giảng dạy ngữ pháp giúp sinh viên tăng khả năng áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, từ đó giúp các em học tập ngoại ngữ hiệu quả hơn.


 
 
--
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm (GV Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Quốc tế)
 
Tài liệu tham khảo
1.Larsen – Freeman, Diane, (2003). Teaching Language: From Grammar to Grammaring. Thomson/ Heinle Publishing Company.
2.Longman, P. (2009). The Longman Dictionary of Contemporary English (New Edition). Longman Publisher.
3.Olswang, 2010. Situational context. SPHSC 308.
4.Oxenden, C. & Latham-Koenig, C. & Seligson, P. (2004). New English File. Oxford University Press.
5.Ur, Penny. 1988. Grammar practice activities: A practical guide for teachers. Cambridge: Cambridge University Press.
 
 
Lượt xem: 481
Xem nhiều
Right Tuyen sinh DH
TSNK
Right - tuyen sinh SDH
Right - tuyen sinh VLVH
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 14
Lượt truy cập: 1.716.896