Đang thực hiện

Top banner

Sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong thuyết trình bằng tiếng Anh

Đăng ngày: 28/05/2019


                                                                            
(ĐHVH HN) - Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, ngoài việc làm chủ một ngoại ngữ thì nhiều kỹ năng mềm khác như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng công nghệ, v.v có tầm quan trọng đặc biệt. Tại các trường đại học ở Việt Nam, các phương pháp giảng dạy mới trong đó có thuyết trình giúp kích thích sáng kiến, quyền tự chủ và sự sáng tạo từ sinh viên.Có thể thấy rằng một cách lý tưởng nhấtkhi thuyết trình là thông tin được truyền đạt dưới cả hình thức bằng lời nói và không bằng lời nói (phi ngôn từ). Tuy nhiên, những tín hiệu của việc sử dụng ngôn ngữ cơ thể thường bị bỏ qua khi sinh viên truyền đạt thông tin hay ý tưởng. Bài viết giúp sinh viên nhận thức rõ vai trò của ngôn ngữ cơ thể trong thuyết trình bằng tiếng Anh cùng một vài đề xuất giúp các em phát triển và hoàn thành các kỹ năng trình bày của mình.
1. Các khái niệm
1.1. Giao tiếp phi ngôn từ(Non-verbal communication)
1.1.1. Định nghĩa
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã đưa ra quan điểm về giao tiếp phi ngôn từ theo các cách khác nhau.
Theo Knapp (1972) thì đó là một thuật ngữ mô tả tất cả các sự kiện giao tiếp vượt lên trên ngôn từ khẩu ngữ và bút ngữ.Định nghĩa này cho thấy một ý tưởng chung về giao tiếp phi ngôn từ. Tuy nhiên, nó không đưa ra bất cứ đặc điểm gì của loại hình giao tiếp này.
Levine và Adelman (1993) cho rằng giao tiếp phi ngôn từ là ngôn ngữ ‘im lặng’ (silent language). Đó là sự giao tiếp bao gồm việc sử dụng cử chỉ, các biểu hiện trên khuôn mặt, tiếp xúc bằng mắt và khoảng cách đối thoại. Tuy vậy, tác giả Nguyễn Quang (2007) cho rằng định nghĩa này mới chỉ nhấn mạnh vào ngôn ngữ thân thể và một phần nhỏ của ngôn ngữ môi trường. Do đó, theo ông, cách nhận diện này là chưa đủ để cung cấp một cái nhìn khái quát về giao tiếp phi ngôn từ.
Dwyer (2000) đưa ra định nghĩa bao quát hơn cùng các ví dụ về giao tiếp phi ngôn từ khi chỉ ra đó là giao tiếp gồm toàn bộ các thông điệp không được mã hóa bằng từ ngữ như giọng nói, cử chỉ, biểu hiện trên khuôn mặt và chuyển động.
Tóm lại, các định nghĩa trên đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của giao tiếp phi ngôn từ. Có thể nhận thấy đây là bộ phận vô cùng quan trọng trong quá trình giao tiếp của con người.
1.1.2. Phân loại giao tiếp phi ngôn từ
Hầu hết những nhà khoa học trong phân loại của mình về giao tiếp phi ngôn từ đều cho rằng hình thức giao tiếp nàythường bao gồm các biểu hiện trên khuôn mặt (diện hiện), giọng nói, cử chỉ, tiếp xúc ánh mắt (nhãn giao), khoảng cách giao tiếp hay hành vi động chạm. Tuy vậy, sự phân loại của họ là khác nhau dựa trên các cơ sở khác nhau như khu vực hay nguồn gốc. Tác giả Nguyễn Quang (2007) là một trong số các học giả đã đưa ra sự phân loại giao tiếp phi ngôn từ một cách rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu như sau:


(Phân loại giao tiếp phi ngôn từ - Nguyễn Quang, 2007)
        
Bảng phân loại trên cho thấy ngôn ngữ cơ thể là thành phần quan trọng của giao tiếp phi ngôn từ, giúp cho việc truyền đạt thông tin hay ý tưởng hiệu quả hơn.
1.2. Kỹ năng thuyết trình
1.2.1. Định nghĩa
Trong cuốn từ điển Oxford (2005), thuyết trình là bài nói chuyện ngắn của một người với một nhóm người để giới thiệu và mô tả về một chủ đề cụ thể, ví dụ như một sản phẩm mới, số liệu của công ty hay chiến dịch quảng cáo, v.v…
Tuy nhiên, đây có lẽ là một định nghĩa hẹp. Trên thực tế, bài thuyết trình có thể do nhiều người đảm nhiệm cùng một lúc, và không nhất thiết phải ngắn gọn, cũng không nhất thiết phải là một buổi ‘nói chuyện’ vì chúng có thể là video hoặc Internet, v.v…
Trong các lớp học tiếng Anh, hoạt động thuyết trình được hiểu như là một phương pháp để thực hành nói, giúp sinh viên trình bày các khái niệm, ý tưởng, các vấn đề mới hoặc tổng kết những tri thức mà họ đã tích lũy được một cách có hệ thống.
1.2.2. Phân loại thuyết trình
Kỹ năng thuyết trình có thể được phân chia thành các loại hình khác nhau, xét theo mục đích sử dụng (purposes) hay theo cách thức tiến hành (manners of delivery). Sau đây là các hình thức thuyết trình phổ biến nhất do Whatley (2001) phân loại.
Trình bày thông tin (Informative Presentation)
Người trình bày đưa ra các dự án hoặc sự kiện, trình bày mọi thứ đang diễn ra hoặc cung cấp thông tin về sản phẩm, quy trình, nội quy, điều lệ hay sự vận hành, hoạt động, v.v…
Hướng dẫn (Instructional Presentation)
Mục đích của hoạt động thuyết trình là đưa ra hướng dẫn cụ thể về một kiến thức mới hay một kỹ năng mới.
Kích thích (Arousing Presentation)
Bài thuyết trình dạng này giúp cho mọi người nghĩ về một vấn đề hoặc tình huống nhất định, đặc biệt phải khơi dậy cảm xúc và trí tuệ của khán giả để họ có thể tiếp thu được quan điểm của người trình bày.
Thuyết phục (Persuasive Presentation)
Hình thức thuyết trình này nhằm thuyết phục người nghe chấp nhận đề xuất của bạn về các giải pháp cho một vấn đề, một cuộc bàn cãi hay một cuộc tranh luận.
Đưa ra quyết định (Decision-making Presentation)
Người trình bày giới thiệu các ý tưởng, các đề xuất và lập luận để thuyết phục khán giả thực hiện các yêu cầu của mình.
2. Phân tích việc sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ cơ thể khi thuyết trình bằng tiếng Anh
Giao tiếp phi ngôn từ là một khía cạnh lớn của giao tiếp, trong đó ngôn ngữ cơ thể là một thành phần quan trọng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi thu thập và phân tích các dữ liệu trên ba khía cạnh chính của ngôn ngữ cơ thể là tiếp xúc ánh mắt (nhãn giao), mỉm cười dáng điệu.
Cách thức tiến hành khảo sát
Lớp học được lựa chọn để khảo sát là một lớp tín chỉ hơn 60 sinh viên. Giáo viên phát phiếu điều tra tìm hiểu việc sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ cơ thể của sinh viên trong khi thuyết trình bằng tiếng Anh kết hợp việc quan sát và thực hiện các cuộc phỏng vấn nhỏ với khoảng 20 sinh viên trong lớp.
Kết quả khảo sát
Kết quả từ phiếu điều tra và các cuộc phỏng vấn nhanh với sinh viên cho thấy một bộ phận không nhỏ các em đã nhận thức được tầm quan trọng của ngôn ngữ cơ thể trong khi thuyết trình nhưng tần xuất thực hiện chúng lại khác xa so với nhận thức của sinh viên.
Tiếp xúc ánh mắt
Trong tất cả các bộ phận cơ thể con người được sử dụng để truyền tải thông tin thì có lẽ đôi mắt có khả năng phản ánh sắc thái tốt nhất. Việc giao tiếp bằng mắt giữa các cá nhân đem đến cảm giác mọi người đều tham gia vào bài thuyết trình, giúp đạt được sự tin tưởng và quan tâm từ người nghe. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy phần lớn sinh viên thừa nhận rằng họ thường nhìn vào màn hình hiển thị Slide hoặc tài liệu cầm tay. Số khác tránh ánh mắt khán giả bằng cách nhìn vào một nơi khác trong lớp như trần nhà hoặc sàn nhà, cửa ra vào hoặc cửa sổ. Một số ít cho biết họ thường nhìn vào cô giáo, vào bạn thân hoặc một người nào đó ở bàn phía trước để tự tin hơn.
Những phát hiện này cho thấy đa số sinh viên dường như không biết giao tiếp bằng mắt khi trình bày bài nói. Điều đáng lưu tâm là chỉ có một lượng nhỏ sinh viên biết làm thế nào để tận dụng việc sử dụng ánh mắt khi giao tiếp với khán giả, giúp cho việc trình bày hay truyền đạt thông tin được hiệu quả hơn.
Mỉm cười
Không thể phủ nhận nụ cười là dấu hiệu của sự thân thiện, ấm áp, tin tưởng, quý mến đối với bất kể nền văn hóa, chủng tộc hay tôn giáo nào trên toàn thế giới. Điều đáng ngạc nhiên là tỷ lệ sinh viên thường xuyên mỉm cười khi thuyết trình là khá khiêm tốn. Một số ít sinh viên thú nhận chưa bao giờ mỉm cười khi thuyết trình. Phần đông sinh viên cho rằng họ sử dụng nụ cười như là một nghi thức khi bắt đầu hoặc khi kết thúc bài thuyết trình. Trong khi đó, tỷ lệ cao sinh viên có thói quen mỉm cười khi quên nội dung trình bày, hay khi cảm thấy hồi hộp, bối rối, lo lắng. Số ít sinh viên biết khai thác sức mạnh đáng kinh ngạc của việc mỉm cười khi trình bày bài nói để thu hút khán giả và thể hiện sự tự tin, thân thiện.
Dáng điệu
Một số nhà khoa học cho rằng tư thế của người trình bày có thể cung cấp một vài tín hiệu thông tin, có tác động lớn cả về tinh thần và thể chất. Barbara Chivers và Michael Schoolbred đã từng khẳng định: ‘cách bạn đứng có tác động rất lớn đến cách bạn hít thở và cách bạn hít thở có tác động lớn tới cách bạn phát âm.’ Đứng lệch về một bên được đa số sinh viên lựa chọn với lí do họ có thể xem các Slide trên màn hình hoặc tìm phản ứng của giáo viên. Một số lượng đáng kể các em chọn đứng cứng đơ như tượng hay đứng thõng lưng và hơi cúi đầu. Thật đáng tiếc vì theo các nhà nghiên cứu thì đây là các tư thế thể hiện sự căng thẳng trong khi thuyết trình. Tín hiệu đáng mừng là một bộ phận không nhỏ sinh viên chọn tư thế tiêu chuẩn là đứng thẳng lưng khi họ trình bày bài nói trước tập thể lớp.
Sinh viên thường đặt tay như thế nào để tạo dáng điệu trong khi thuyết trình. Dữ liệu cho thấy hai tư thế được sinh viên ưa chuộng nhất là tay đặt sau lưng hoặc bắt chéo ở đằng trước và tay cầm tài liệu. Chỉ có một số ít sinh viên chọn tư thế thích hợp là để tay sang hai bên tạo cảm giác tự tin khi trình bày như Barbara Chivers và Michael Schoolbred đề xuất. May mắn thay không ai chọn tư thế để tay trong túi quần hoặc tay chống hông-được xem như tư thế hung hăng hay khoe khoang, ngạo mạn.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ cơ thể khi thuyết trình
Có thể xem xét một vài yếu tố sau đây dẫn tới việc sinh viên sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ cơ thể khi thuyết trình chưa mấy hiệu quả.
3.1. Yếu tố tâm lý
Việc sử dụng ngôn ngữ cơ thể bị ảnh hưởng không nhỏ bởi tâm lý sợ nói trước đám đông của người thuyết trình. Các cuộc phỏng vấn nhỏ với sinh viên cho thấy chỉ có một số ít sinh viên cho rằng mình đủ tự tin khi nói trước tập thể lớp. Trong khi đó, đa số sinh viên còn lại thừa nhận rằng các em thấy căng thẳng, mất bình tĩnh và sợ hãi khi thuyết trình.
3.2. Thiếu kiến thức nền cho việc sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong thuyết trình
Để có thể áp dụng một cách hiệu quả ngôn ngữ cơ thể vào các bài nói trên lớp thì trước hết sinh viên phải có kiến thức về lĩnh vực này. Tuy nhiên, số liệu khảo sát cho thấy chỉ có chỉ có rất ít sinh viên khẳng định các em có thể nắm vững lý thuyết của việc sử dụng tín hiệu cơ thể cho các bài thuyết trình như biết tiếp xúc ánh mắt để tạo sự quan tâm từ phía khán giả hay mỉm cười để gây thiện cảm với người nghe hoặc có tư thế đứng, đặt tay phù hợp khi nói trước đám đông. Điều đáng chú ý là gần 3 phần 4 trong số sinh viên được khảo sát cho thấy hiểu biết của các em về ngôn ngữ cơ thể khi thuyết trình là chưa đủ.
3.3. Chưa đánh giá cao vai trò của ngôn ngữ cơ thể trong thuyết trình
Kết quả khảo sát cho thấy phần nhiều sinh viên cho rằng ngôn ngữ cơ thể chỉ góp một phần rất nhỏ hoặc thậm chí không được tính vào điểm thuyết trình. Do vậy, các em có suy nghĩ giáo viên chỉ chú trọng nhiều vào nội dung và độ lưu loát, trôi chảy khi sinh viên trình bày bài nói. Chính vì thế nên sinh viên chỉ tập trung vào ngôn ngữ bằng lời nói mà bỏ qua tầm quan trọng của ngôn ngữ cơ thể khi trình bày.
3.4. Yếu tố văn hóa
Văn hóa có tác động tới giao tiếp nói chung và giao tiếp phi ngôn từ nói riêng. Trong hầu hết các nền văn hóa châu Á, liên hệ trực tiếp bằng mắt thường được coi là đối đầu và thô lỗ. Bởi vậy, tại các nước này, việc tránh tiếp xúc bằng mắt được cho là dấu hiệu của sự tôn trọng người khác và duy trì sự hòa hợp giữa mọi người. Bên cạnh đó, hầu hết các sinh viên trong khảo sát đến từ các miền nông thôn nên khá rụt rè, nhút nhát. Trong các bài thuyết trình, hiếm khi thấy các em tiếp xúc ánh mắt với thầy cô giáo và các bạn học hay mỉm cười hoặc có tư thế tự nhiên. Hơn nữa, hầu hết sinh viên vẫn quen với phương pháp giáo dục cũ, trong đó giáo viên sẽ kiểm soát tất cả hoạt động và sinh viên chỉ giữ vai trò thụ động. Việc áp dụng phương pháp giáo dục mới trong đó có thuyết trình đòi hỏi sinh viên phải năng động, tích cực và làm chủ quá trình học tập của mình.
4. Vài gợi ý cho việc sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong thuyết trình bằng tiếng Anh
Có thể thấy rằng việc đưa ra các gợi ý thiết thực sẽ giúpsinh viên giảm thiểu các yếu tố tiêu cực, vượt qua các trở ngại đểcác em luyện tập và điều chỉnh tốt hơn ngôn ngữ cơ thể cho các bài thuyết trình bằng tiếng Anh hiệu quả hơn.
Về phía người dạy
Giáo viên có vai trò đáng kể trong việc nâng cao nhận thức của sinh viên về việc sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong khi thuyết trình như cung cấp kiến thức nền cho sinh viên về việc sử dụng tín hiệu ngôn ngữ cơ thể khi trình bàytrước tập thể lớp. Đồng thời giáo viên cũng thường xuyên sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong khi giảng bài và nhấn mạnh tầm quan trọng của chúng. Mặt khác, rất cần thiết khi cho tiêu chí sử dụng ngôn ngữ cơ thể để tính điểm thuyết trình nhằm tạo động lực cho sinh viên cố gắng.
Về phía người học
Dù với bất cứ lí do gì thì động lực của sinh viên - người học vẫn là yếu tố có vai trò quan trọng nhất quyết định kết quả học tập của chính các em. Bởi vậy, sinh viên phải nỗ lực luyện tập, thực hành để tạo phản xạ tốt. Trên thực tế, bài thuyết trình không phải là giao tiếp một chiều mà có thể được xem như là cuộc đối thoại với khán giả. Người trình bày có thể giao tiếp bằng ánh mắt, bằng những biểu hiện trên khuôn mặt hoặc qua tư thế, dáng điệu phù hợp. Ví dụ như sinh viên có thể điều chỉnh tiếp xúc ánh mắt một cách thích hợp để nâng cao sự thành công của bài thuyết trình bằng cách tìm mối quan hệ với những người đang phản hồi với mình như đang mỉm cười, đang gật gù đồng ý hoặc nhìn vào mắt một đứa bạn thân, v.v để tạo động lực giúp các em tiếp tục bài thuyết trình. Một ví dụ khác là khi sinh viên bất chợt quên nội dung bài trình bày sẽ có thể ngay lập tức mỉm cười tự nhiên với khán giả, giúp lấy lại tự tin và giảm căng thẳng hay lúng túng.
Kết luận
Tóm lại, việc lựa chọn thuyết trình như một phương pháp thúc đẩy nhằm khuyến khích sinh viên tham gia tích cực hơn vào các giờ học tiếng Anh là vô cùng cần thiết.Song, trên thực tế, để có một bài thuyết trình thành công là điều không hề dễ dàng. Chúng tôi hi vọng một vài gợi ý ở trên sẽ ít nhiều nâng cao nhận thức của sinh viên về việc sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ cơ thể cho các hoạt động thuyết trình trên lớp, qua đó giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp cũng như trong công việc sau này.
--
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm (GV Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Quốc tế)
 
 
 
Tài liệu tham khảo
1.Dwyer, J. (2000). The Business Communication Handbook. 5th edition. Prentice Hall.
2.Knapp, M. (1972). Nonverbal communication in human reaction. Holt, Reinhart and Winston Inc., New York.
3.Levine, D.R. and Adelman, M.B. (1993). Beyond Language –Cross Cultural Communication. Regents/ Prentice Hall Inc.
4.Nguyễn Quang. (2007). Journal of Science. Vietnam National University – Hanoi.
5.Presentation. (2005). In S.Wehmeier (Ed). Oxford Advanced Learners’ Dictionary. Oxford University Press.
6.Whatley, R.P. (2001). Types of Presentations. Retrieved October 15th 2010 from http://www.salesvantage.com/article/560/Types-of-Presentations
 
Lượt xem: 390
Xem nhiều
Right Tuyen sinh DH
TSNK
Right - tuyen sinh SDH
Right - tuyen sinh VLVH
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 8
Lượt truy cập: 1.759.299