Đang thực hiện

Top banner

Những giá trị nghệ thuật kiến trúc Đền Trạng (Hương Khê, Hà Tĩnh)

Đăng ngày: 15/07/2019

 

 
(ĐHVH HN) - Đền Trạng (thôn 2, xã Hương Thủy, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) là một ngôi đền cổ có kiến trúc và chạm khắc trang trí kiến trúc rất tinh xảo, độc đáo được xây dựng từ đầu thời Nguyễn. Trải qua thăng trầm của lịch sử, nhiều hạng mục kiến trúc của ngôi đền này đã bị thiên nhiên và con người xâm hại, hư hỏng nặng. Trong chuyến khảo sát, điền dã tại Hà Tĩnh tháng 6-2019, đoàn công tác liên ngành gồm Phòng Quản lý Di sản tỉnh Hà Tĩnh, phòng Văn hóa huyện Hương Khê, giảng viên, sinh viên khoa Di sản Văn hóa – trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã có những phát hiện mới về di tích này.
 
1. Vị trí địa lý, cảnh quan di tích
Đền Trạng là một ngôi đền cổ ở thôn 2, xã Hương Thủy, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh. Đền Trạng xưa kia thuộc địa phận của làng Trung Định, tổng Chu Lễ - trung tâm hành chính của huyện Hương Khê (1867). Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Hương Thủy có ghi về làng Trung Định xưa “nằm bên bờ tả ngạn sông Ngàn Sâu, có đất đai rộng hàng trăm mẫu phì nhiêu, tươi tốt” (3, tr.20). Đền Trạng nằm trên đỉnh một ngọn đồi thấp thuộc làng Trung Định, tòa Thượng điện quay hướng chính Tây, phía Đông là thung lũng Trung Định, phía Nam giáp làng Vĩnh Phúc và các quả đồi nho nhỏ nằm ven thung lũng, phía Tây giáp Mạch suối (hiện nay là đập Trạng). Có thể thấy, đền Trạng được xây dựng trên mảnh đất địa linh nhân kiệt, sơn thủy hữu tình, có dòng sông Ngàn Sâu uốn lượn quanh co dưới chân những mạch núi thấp đan xen đồi gò nhấp nhô, bao bọc lấy một vùng thung lũng nhỏ, là nơi thích hợp để cư dân sớm định cư sinh sống từ hàng trăm năm trước.
Trong những năm chống Mỹ, đền Trạng đã bị tàn phá nặng nề, chỉ còn lại tòa Thượng điện và Hậu cung, nhà Tiền tế và hai tòa tả vu, hữu vu đã bị phá hủy hoàn toàn chỉ còn phần nền móng và các hàng chân tảng đá kê cột. Trải qua thăng trầm của lịch sử, di tích đền Trạng đã xuống cấp nghiêm trọng, bên ngoài đền Trạng đã bị dây leo và cây cối bao phủ kín, do không có lối vào riêng nên đền Trạng ngày càng hoang vắng, việc thờ phụng hương khói cũng lạnh lẽo, mai một dần đi. Đầu tháng 7/2019, chính quyền và nhân dân xã Hương Thủy đã chung tay góp sức bước đầu tiến hành trùng tu, tôn tạo và khôi phục lại việc thờ tự tại đền Trạng.
(Tòa Thượng điện đền Trạng)

2. Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của đền Trạng

Ngày nay, trên địa bàn xã Hương Thủy có 10 ngôi đền, trong đó 3 ngôi đền thờ các vị thần được ghi lại trong sách Đồng Khánh dư địa chí, đó là đền thờ Cao Sơn Cao các thượng đẳng thần ở thôn Trung Định, đền thờ Trà Sơn Hộ quốc thượng đẳng thần và đền thờ Thủy tinh công chúa ở xã Chu Lễ…” (1, tr. 1263). Ngoài ra còn có các đền Tế Lễ, đền Động Mộc, đền Trạng, đền Cây Vải, miếu Nhà Bà, đền Khe Nác, đền Rú, đền Long Mạch – Sơn Thần… (3, tr. 22).
Đền Trạng thờ Bắc thành đại tướng quân Nguyễn Hữu Hộ, hậu duệ của dòng họ Nguyễn làng Trung Định, người có công giúp Quang Trung trong trận chiến lịch sử Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789. Đền có quy mô không lớn nhưng nổi bật bởi nghệ thuật kiến trúc và trang trí kiến trúc độc đáo thời Nguyễn. Hiện nay không còn bất cứ tài liệu ghi chép nào cho biết chính xác về niên đại khởi dựng của Đền Trạng. Dựa vào kiểu dáng, đặc điểm và trang trí chạm khắc trên các bộ phận của kiến trúc toà Thượng điện có thể xác định niên đại tương đối của công trình kiến trúc này được làm khoảng đầu thời Nguyễn (thế kỷ XIX).
Cuối thời Nguyễn, đền Trạng được trùng tu tôn tạo, dấu ấn của lần trùng tu này còn để lại rõ nét trên một số đầu dư tại toà Thượng điện và kết cấu kiến trúc trong hậu cung. Trên xà ngang của vì kèo thứ nhất tòa Thượng điện còn dòng chữ Mậu Thân hạ tạo tác (戊申复造作), cho thấy lần trùng tu này diễn ra vào năm 1908, dưới thời vua Duy Tân (1907-1916). Một số công trình như tam quan, nhà tiền tế được xây bằng gạch, vôi vữa, trang trí họa tiết đắp nổi gắn gốm sứ được tiến hành khoảng những năm 1930 của thế kỷ XX.


Trên bức cuốn thư ở mặt trước tòa Thượng điện có chữ “Tối Linh” (最靈) 


Trên vì kèo tòa Thượng điện còn dòng chữ Hán 戊申复造作 (Mậu Thân hạ tạo tác-trùng tu mùa hè năm Mậu Thân) (1908)

Theo lời kể của các cụ cao niên trong thôn, những năm kháng chiến chống Pháp, theo lệnh “Tiêu thổ kháng chiến” thì hầu hết các di tích đình, đền, chùa ở xã Hương Thủy đã bị phá dỡ, do vậy đền Trạng chỉ còn lại tòa Thượng điện và Hậu cung như hiện nay.

3. Sự tích về vị thần được thờ tại đền Trạng

Cuốn Địa chí Hương Khê có đề cập đến vị thần được thờ tại đền Trạng như sau: “đại tướng quân Nguyễn Hữu Hộ là một tướng quân giỏi của  Quang Trung, ông được giao trọng trách dẫn quân vào giải phóng Thăng Long. Trong trận chiến oanh liệt đó, ông đã bị thương nặng và hy sinh vào ngày mùng 3 Tết Kỷ Dậu (1789). Về sau ông được vua Quang Trung truy tặng danh hiệu “Bắc thành đại tướng quân”. Nhân dân nhớ công đức của Ngài đã thờ cúng chu đáo ở đền Trạng” (2, tr.355).
Trong Lịch sử Đảng bộ xã Hương Thủy  có ghi rõ hơn về lai lịch đại tướng quân Nguyễn Hữu Hộ: “xuất thân trong một gia đình nông dân, vợ là Văn Thị Tuân. Ông tính tình hào hiệp, can đảm, mưu trí. Nguyễn Hữu Hộ hưởng ứng nghĩa quân, theo Quang Trung tiêu diệt quân xâm lược và bè lũ tay sai bán nước. Lúc bấy giờ ông được thụ phong giữ chức Tướng sĩ lang thừa lễ điện tri sự hành binh cai đội…. Trong trận chiến tại đồn Hạ Hồi, Nguyễn Hữu Hộ đã bị thương nặng và hi sinh vào ngày 3 Tết Kỷ Dậu (1789)…. Nhân dân nhớ công đức của Ngài đã thờ cúng chu đáo ở đền Trạng cùng với các vị tiền bối có công với dân với nước. Đến ngày mùng 2 Tết muôn họ đến cúng lễ. Thân thế và sự nghiệp của Đại tướng quân Nguyễn Hữu Hộ còn được lưu giữ tại nhà thờ họ Nguyễn Văn tại Động Cửa (xóm 3, Hương Thủy)” (3, tr. 32).
Sự kiện Nguyễn Huệ tuyển quân ở Nghệ An được sử sách ghi lại như sau: “... ngày 22 tháng 12 năm 1788 (25 tháng 11 Mậu Thân) Nguyễn Huệ sai người lập đàn ở phía nam núi Ngự Bình (Huế) tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức ra quân. Ngày 26, Quang Trung đến Nghệ An, đóng quân lại một thời gian để mộ thêm quân. Chỉ trong mấy ngày, thanh niên trai tráng địa phương nô nức kéo về, hăng hái tòng quân làm cho quân số tăng lên đến trên 10 vạn”(4, tr 423).
Như vậy, căn cứ vào sự kiện Nguyễn Huệ từng tuyển đến hơn 10 vạn quân ở Nghệ An có thể khẳng định được vị Bắc Thành Đại tướng quân được thờ trong đền Trạng là một người con của quê hương Hương Thủy, theo Nguyễn Huệ ra Bắc đánh quân Thanh, lập nhiều chiến công, sau khi mất ông được nhân dân trong vùng tưởng nhớ, lập đền thờ phụng.

Trích gia phả họ Nguyễn ở xã Hương Thủy

Cũng theo gia phả họ Nguyễn ở làng Trung Định, vào năm 1830, có người trong họ tên là Nguyễn Hữu Địch (tức ông cố Châu) đã hưng công xây dựng nhà thờ họ Nguyễn chi Ất và viết gia phả để lại cho con cháu về sau. Cuốn gia phả này hiện vẫn được con cháu dòng họ Nguyễn giữ gìn và bảo quản tại nhà thờ họ Nguyễn ở Động Cửa gần đền Trạng. Đáng chú ý, trong cuốn gia phả họ Nguyễn cũng ghi chép lại về: Hiển tổ khảo tiền gia thạc sĩ Tướng sĩ lang, thừa lễ điện, tri sự hành binh cai đội Nguyễn Hữu Hộ. Hiển tổ Nguyễn chính thất Văn Thị Tuân nhụ nhân (顯 祖 考 前 加 碩 試 將 仕 郞 承 禮 殿 知 事 行 兵 該 隊 阮 有 户. 顯 祖 阮 正 室 文 氏 遵 孺人) (Hiển tổ trước đã tham gia thi cử, được phong chức Tướng sỹ lang, được thờ phụng ở điện, hiểu việc hành binh, cai đội Nguyễn Hữu Hộ. Vợ của ông là Văn Thị Tuân). Ông sinh ngày 20 tháng 10 năm Mậu Tý (1768), giờ Ngọ, từ nhỏ đã thông minh, tính tình nghiêm nghị, cương trực. Gặp cảnh loạn lạc binh biến, nhân lúc Nguyễn Huệ đến quê nhà tuyển quân, ông đã xin gia nhập quân Tây Sơn, được giao chỉ huy một đội quân tiến ra Thăng Long đánh đuổi giặc Thanh. Trong trận chiến tại Ngọc Hồi, Đống Đa, ông đã hy sinh vào đêm ngày mồng 2 rạng ngày mồng 3 tết Kỷ Dậu (1789). Năm đó ông mới 21 tuổi [chưa có con nối dõi – tác giả]. Để tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân địa phương đã lập đền/điện thờ phụng ông tại quê nhà, tổ chức lễ giỗ vào ngày 2 Tết hàng năm. Điều 6 của Tộc ước Đại tộc Nguyễn Văn đã đưa ngày giỗ Đức Bắc thành mồng 2 tháng giêng  là ngày truyền thống của họ (3, tr. 32).

4. Giá trị kiến trúc và nghệ thuật trang trí

Đối với người phương Đông, khi tiến hành xây dựng bất cứ công trình kiến trúc nào người ta cũng đều rất chú ý đến hướng và địa thế theo thuyết phong thủy. Chọn hướng, chọn địa thế làm sao cho tốt, cho hài hòa giữa thiên nhiên và con người, sau đó mới bắt đầu xây dựng. Đặc biệt là khi tiến hành xây dựng một công trình tôn giáo tín ngưỡng cho cả làng như đình, chùa, đền, miếu… thì việc lựa chọn thế đất, phương hướng cho công trình lại càng đòi hỏi sự cẩn thận và chính xác hơn.
Khi lựa chọn hướng để xây dựng đền, người xưa quan niệm phải chọn thế đất “địa linh”, tức vùng đất phải cao ráo, sáng sủa, đẹp đẽ, phía trước phải rộng rãi, xung quanh có núi chầu về, sau lưng có thế tựa, hai bên có “tay ngai” và bao giờ trước mặt cũng phải có nguồn nước. Đền Trạng được xây dựng trên mảnh đất hội tụ đầy đủ mọi yếu tố địa linh: “minh đường huyền thủy, tiền án hậu chẩm”, “tả thanh long hữu bạch hổ”. Đền quay mặt hướng chính Tây, đón mặt trời lặn. Phía trước đền là Mạch suối (nay là đập Trạng), đây chính là điểm “tụ phúc, tụ thủy”, là yếu tố Âm cùng với ngôi đền uy nghi được xây dựng trên đỉnh đồi là yếu tố Dương để tạo nên thế cân bằng, âm dương hài hòa, xa xa phía trước đền là cánh đồng lúa và hoa màu quanh năm xanh tốt. Nhìn từ trên xuống, đền Trạng giống như một con rồng đang vươn mình từ trên cao xuống uống nước, “đầu gối sơn, chân đạp thủy”. Đầu rồng hướng về phía đập Trạng, hai chân trước chính tại vị trí tòa tả vu, hữu vu. Phần thân và đuôi vắt lên trên đỉnh đồi. Nhìn từ dưới lên, đền Trạng hiện ra với một khối kiến trúc đẹp và tinh xảo hòa mình trong một không gian tĩnh lặng, tạo nên một vẻ đẹp cổ kính, huyền bí và ẩn trong đó là cả một hệ thống văn hóa tâm linh.
Trên bức cuốn thư ở cổng Tam quan phía trước tòa Thượng điện có chữ “Tối Linh” (最靈) cho thấy đền Trạng đã từng giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của cư dân quanh vùng.
Hai bên cổng Tam quan có hai đôi câu đối:
Câu đối 1:
  値
 高详在 
Phiên âm:   Chính trực y hồ nhân
Huân cao dương tại thượng
Dịch nghĩa: Ngay thẳng làm nên con người Ngài
Công lao to lớn được biểu dương bên trên
Câu đối 2:

正氣幾 
Phiên âm:     Cao phong lai hiến trượng
Chính khí kỷ lưu chương
Dịch nghĩa:   Núi cao tới muôn trượng
Khí tốt lưu lại muôn đời
Đền Trạng có bố cục mặt bằng theo chiều dọc, phía trước là tòa tiền tế phía sau là tòa Thượng điện gồm 2 gian  thờ chính và 1 gian hậu cung. Nhà Tiền đường đã bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại nền móng (dài 8,1m x rộng 5.4m) và sàn lát gạch Cẩm trang (18cm x 18cm/viên) cùng hàng chân tảng đá kê chân cột.
Nối giữa nhà tiền tế với Thượng điện là một khoảng sân nhỏ, hai bên có tường bao thấp (dài 4,6m x rộng 1,45m).  Tòa Thượng điện 3 gian được cấu tạo bởi 3 bộ vì gỗ mít chịu lực (2 bộ vì nóc chính, 1 bộ vì đầu hồi). Hệ thống xà, kẻ, bẩy được trạm trổ tỉ mỉ, tinh xảo. Cột gỗ sơn son thếp vàng, trang trí hình rồng lộng lẫy, cao 2,2m. Các chân cột được kê bằng đá tảng để trơn không trang trí. Chân tảng gồm có hai lớp: lớp trên hình tròn, lớp dưới hình vuông (chân tảng kiểu âm dương), kích thước dài  42cm x rộng 42cm x cao 22cm. Khảng cách giữa 2 cột cái là 2,4m; khoảng cách giữa cột cái và cột hiên là 0,9m; khoảng cách giữa cột cái với cột đầu hồi là 1,3m.
Bộ vì nóc của tòa Thượng điện có kết cấu theo kiểu “chồng rường giá chiêng cột trốn”. Mái đền được lợp bởi 3 lớp ngói, bên trong là ngói lót mỏng hình chữ nhật không trang trí, bên ngoài lợp ngói mũi lá.
Gian hậu cung nối liền phía sau hai gian Thượng điện, có gác lửng đặt ngai thờ và linh vị (phần này đã bị hư hỏng, chỉ còn lại một số cấu kiện gỗ nằm rải rác trên nền gạch).
Hai bên Thượng điện là tòa tả vu và hữu vu, kích thước mặt bằng dài 1,76m x rộng 1,6m, trên sàn còn nguyên vị trí 4 tảng đá kê chân cột hình vuông, kích thước cao 8cm x dài 25cm x rộng 25cm, đường kính bệ đỡ  cột là 22cm.
Đền Trạng có quy mô mặt bằng kiến trúc không lớn, nhưng các cấu kiện kiến trúc như vì kèo, xà nách, kẻ, bẩy.., đều được trang trí rất tinh xảo với những mảng chạm khắc có giá trị nghệ thuật cao, đề tài phong phú, sinh động. Các kỹ thuật chạm khắc được sử dụng ở đền Trạng là kỹ thuật chạm thủng, chạm lộng, chạm bong kênh, chạm nông...

Vì kèo tòa Thượng điện kết cấu theo kiểu “chồng rường giá chiêng cột trốn”, trang trí “Long hàm Thọ”


Đầu bầy được trang trí đề tài Long hí thủy với kỹ thuật chạm khắc tinh xảo


Đề tài trang trí trên các cấu kiện kiến trúc ở đền Trạng chủ yếu là Tứ linh (long, ly, quy, phượng), tiêu biểu như Long hàm Thọ (rồng miệng ngậm chữ Thọ), Phượng hàm thư (Phương ngậm cuốn thư), Lân - long mã, Ngư hóa long… Đáng chú ý nhất là mảng chạm khắc trên các đầu bẩy ở tòa Thượng điện: hình tượng con rồng to lớn đang uốn mình trong những cụm mây. Đầu rồng nổi bật nhô ra khỏi mặt phẳng, bờm râu nét mác dựng đứng, miệng há rộng trong tư thế cuốn thuỷ, trong dòng nước nhìn rõ con cá chép đang cuốn theo. Thân rồng cuộn khúc, đuôi xoè rộng thành hình bông hoa. Hình con chim phượng trong tư thế đang bay, phượng có mỏ vẹt, mào, râu, tóc là những mũi mác, cánh phượng xoè rộng được cách điệu thành những vân mây mềm mại uyển chuyển. Hình lân, long mã, rùa nấp dưới tán lá sen, đàn cá chép đang nô đùa trên sóng nước, vân mây vô cùng sống động.
Như vậy, qua kết cấu kiến trúc và trang trí kiến trúc của ở đền Trạng chúng ta thấy đây là một công trình kiến trúc rất đẹp và độc đáo, mang đậm dấu ấn nghệ thuật của thời Nguyễn.

5. Hệ thống di vật thờ trong đền Trạng

Đền Trạng hiện còn lưu giữ được một số đồ thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng, trang trí hình rồng, gồm: 01 linh vị, 01 ngai thờ, 01 biển rước, 01 khay đài, 01 hộp áo, 01 kiệu rước, 02 đài thờ, 01 giá đỡ bát hương… Toàn bộ đồ thờ còn được bảo tồn khá tốt, mang đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.

 Thống kê di vật đền Trạng:
 
STT Tên hiện vật Số lượng Hiện trạng Kích thước (cm)
1 Ngai thờ 1 Mát tay ngai, lưng ngai, con tiện Cao: 33
Dài: 44
Rộng: 36
2 Khay đài 1 Mất vành Cao: 21
Dài: 28
Rộng: 27
3 Hộp áo 1 Còn nguyên Cao: 23
Dài: 33
Rộng: 33
4 Giá bát hương 1 Mối mọt Dài: 46
Rộng: 35
5 Biển rước 1 Mất cán Dài: 46
Rộng: 26
6 Yếm kiệu 1 Còn nguyên Dài: 190
Rộng: 20
7 Mảng chạm tay bành kiệu 1 Mối mọt Dài: 92
Rộng: 35
8 Mảng chạm tay bành kiệu 1 Mối mọt Dài: 23
Rộng: 20
9 Mảng chạm lưng kiệu 1 Mối mọt Dài: 49
Rộng: 30
10 Đòn kiệu 2 Còn nguyên Dài: 335
Rộng: 35
11 Linh vị 1 Còn nguyên  
12 Ngai thờ 1 Còn nguyên  
13 Đài thờ 2 Còn nguyên  
 


Biển rước bằng gỗ sơn son thếp vàng (kích thước: 26cm x 60cm),
mặt trước đề chữ: Tĩnh Túc, mặt sau đề chữ Hồi Tỵ


                    Linh vị



Một số đồ thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng

6. Kiến nghị, đề xuất phương án bảo tồn di tích Đền Trạng

6.1. Hiện trạng di tích
Trải qua quá trình tồn tại hơn 200 năm, trong điều kiện khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, lần trùng tu gần nhất cũng cách ngày nay hơn 100 năm nên di tích đền Trạng đã xuống cấp trầm trọng và đối diện với nguy cơ bị hủy hoại bất cứ lúc nào.
Đền nằm trên đỉnh một ngọn đồi, không có lối đi riêng, muốn đến di tích phải đi qua một vườn trồng cây dó của 1 hộ dân nên việc tiếp cận khá khó khăn. Đền bị bỏ hoang trong một thời gian dài, thiếu sự quan tâm coi sóc nên nhiều cấu kiện kiến trúc đã hư hỏng nặng, mối xông từ chân cột lên xà ngang, lan ra đến tân câu đầu, rêu mốc toàn bộ phần tường gạch. Nhiều thân cột bị mọt đục, nứt nẻ lớn để lộ phần thân bên trong gây hiện tượng cột bị tiêu tâm… Mái ngói bị dột, nhiều mảng ngói rơi vỡ rải rác khắp sàn Thượng điện. Mưa nắng chiếu trực tiếp qua những mảng ngói vỡ đã đe dọa trực tiếp tới sự bền vững của di tích.

Đền Trạng chưa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, bị hoang phế  gần nửa thế kỷ

Các đầu bẩy đã bị mối xông


Phần mái bị hư hỏng nặng





Nền móng bị sụt lún, nứt vỡ



Đền Trạng hiện đã xuống cấp trầm trọng, các cấu kiện kiến trúc bị rơi vương vãi khắp sàn Thượng điện


6.2. Kiến nghị, đề xuất phương án bảo tồn

Theo đánh giá của các chuyên gia, đền Trạng là một di tích lịch sử văn hóa có giá trị tiêu biểu về kiến trúc và nghệ thuật trang trí của huyện Hương Khê. Đền không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng của nhân dân địa phương mà nó còn lưu giữ được những giá trị về lịch sử, truyền thống văn hóa của bao thế hệ tiền nhân đã xây dựng và bảo vệ mảnh đất Hương Thủy trong quá khứ. Vì vậy, việc bảo tồn cho di tích Đền Trạng là hết sức cấp thiết và cần phải khẩn trương trước mùa mưa bão năm 2019.
Để bảo vệ di tích, trước tiên chính quyền và nhân dân địa phương cần có những biện pháp cụ thể sau:
- Tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn. Đo đạc, xác minh phạm vi đất đai thuộc di tích, khoanh vùng bảo vệ di tích, lập bản đồ quy hoạch di tích đền Trạng, hoàn thiện hồ sơ trình các cấp xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
- Thành lập Ban quản lý di tích đền Trạng với nhiệm vụ quản lý và bảo vệ toàn bộ các giá trị của di tích, thường xuyên kiểm tra, phát hiện kịp thời những hư hỏng để có những biện pháp xử lý hiệu quả, ngăn chặn các hành vi xâm phạm di tích.
- Nâng cao nhận thức của cộng đồng trong bảo vệ, phát huy giá trị di tích. Khi người dân có nhận thức đúng về giá trị của các di tích mới có hành động bảo vệ di tích một cách hợp lý, ngược lại, nhận thức của cộng đồng chưa cao, sẽ dẫn đến sự thờ ơ đối với giá trị của di tích. Do vậy, cần tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ di sản văn hóa, thái độ trân trọng, tinh thần trách nhiệm với di tích lịch sử văn hóa trong quần chúng nhân dân thông qua các buổi họp, chương trình phát thanh của địa phương và các phương tiện thông tin đại chúng khác….
- Phát huy vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, đặc biệt đối với các di tích lịch sử văn hóa chưa được đưa vào danh sách kiểm kê, xếp hạng. Chính quyền các cấp cần có những chính sách nhằm khuyến khích, thu hút và tạo điều kiện cho các tổ chức, đoàn thể, cá nhân tham gia vào hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị của di tích trên địa bàn xã. Sự đóng góp của cộng đồng cho tu bổ di tích cùng với sự quan tâm đầu tư của chính quyền Hương Thủy xã theo hình thức “nhà nước và nhân dân cùng làm” thời gian vừa qua là tín hiệu đáng mừng mở đầu cho sự “hồi sinh” của di tích này.



Hiện chính quyền và nhân dân xã Hương Thủy đã bước đầu trùng tu, tôn tạo di tích đền Trạng, mở đường vào di tích

7. Kết luận

Với hơn 200 năm tồn tại, Đền Trạng là chứng tích lịch sử gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển xã Hương Thủy từ đầu thế kỷ XIX đến nay. Ngôi đền vừa là một trong số ít di tích lịch sử văn hóa – kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu nhất của huyện Hương Khê, vừa là công trình quan trọng có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tâm linh của người dân địa phương. Để bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử - văn hóa của đền Trạng cần phải có sự tham gia của cộng đồng cư dân chung tay cùng với chính quyền và cơ quan quản lý di tích. Đền Trạng không thể đứng ngoài sinh hoạt của cộng đồng dân cư, hoặc đứng ngoài không gian văn hóa của nó. Ðể ngôi đền cổ này “hồi sinh” và được bảo tồn như nó vốn có, đền Trạng phải được "sống", được tôn vinh, được người dân thừa nhận ngay trong chính đời sống cộng đồng.
--
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đồng Khánh dư địa chí (2003), tập 1, Nxb Thế giới, Hà Nội.
2. Huyện ủy, HĐND, UBND, UB MTTQ huyện Hương Khê (2017), Địa chí Hương Khê, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
3. Đảng ủy, HĐND, UBND, UB MTTQ xã Hương Thủy, huyện Hương Khê (2016), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Hương Thủy (1930-2015), Nxb. Hồng Đức, Thanh Hóa.
4. Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (1998), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
--

 
Bài và ảnh: Nhóm tác giả: TS. NGUYỄN ANH THƯ; THS. LƯU NGỌC THÀNH;CN. ĐẶNG NGỌC HUY; CN. PHAN ANH 
(Khoa Di sản Văn hóa – Đại học Văn hóa Hà Nội)
 
 
 
Lượt xem: 888
Xem nhiều
Right Tuyen sinh DH
TSNK
Right - tuyen sinh SDH
Right - tuyen sinh VLVH
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 9
Lượt truy cập: 1.759.302