Đang thực hiện

Top banner

Ngôn ngữ cơ thể–yếu tố quan trọng, tác động nhiều nhất đến người nghe trong giao tiếp

Đăng ngày: 14/12/2013

1. Lời dẫn

Giao tiếp là một quá trình hoạt động trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lí, hiểu biết lẫn nhau, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau và thường xuyên diễn ra trong cuộc sống. Khi nói đến giao tiếp, nhiều người cho rằng lời nói là công cụ, phương tiện quan trọng và hữu hiệu nhất của con người. Tuy nhiên điều này thật không hẳn đúng khi có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng con người có khả năng giao tiếp ngay từ khi còn trong bụng mẹ. Khi người cha hoặc người mẹ xoa nhẹ vào bụng bầu của bà mẹ đang mang thai, phản ứng của đứa trẻ trong bụng cho thấy nó rất vui, phấn khích bằng cách đạp chân lục đục trong bụng mẹ. Với những đứa trẻ mới chào đời, người mẹ chỉ cần nhìn thấy bé cau mày lại hay ưỡn lưng lên là đã hiểu ngay rằng bé đang khó chịu, còn khi lớn hơn một tí, do chưa biết nói nên bé thường dùng tay chỉ khi muốn cái gì. Như vậy, việc giao tiếp có thể xảy ra ngay cả khi không có ngôn từ nào được phát ra. Trong tình huống cụ thể, mỗi biểu hiện, cử chỉ đều mang một ý nghĩa nhất định và ta gọi đó là một thứ ngôn ngữ không lời (Nonverbal communication) hay Ngôn ngữ cơ thể (Body language). Vậy hiểu một cách chung nhất thì ngôn ngữ cơ thể là tất cả những gì mà chúng ta thể hiện ra bên ngoài trong quá trình giao tiếp với người khác. Đó là hệ thống tín hiệu đặc biệt, được tạo thành bởi những thao tác, chuyển động của từng bộ phận cơ thể bao gồm các cử chỉ, sự biểu lộ trên khuôn mặt, sự thể hiện qua ánh mắt, nụ cười, hành động của bàn tay, giọng điệu, điệu bộ cơ thể,… hoặc của nhiều bộ phận phối hợp và có chức năng giao tiếp hoặc phụ trợ cho ngôn ngữ nói trong quá trình giao tiếp. Có thể nói, ngôn ngữ cơ thể là công cụ hỗ trợ giao tig, cử chỉ, sự biểu hiện trên nét mặt, và cả ánh mắt của họ nữa, ta cũng có thể nhận biết được cảm xúc thật của họ.

- Một số dạng giao tiếp phi ngôn từ có thể được nhận biết qua những nền văn hóa khác nhau.

Mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa có hề thống ngôn ngữ riêng biệt mà những người đến từ nền văn hóa khác khó có thể hiểu được. Ngược lại, trong học thuyết tâm lí tinh thần các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng con người dù ở bất cứ một nền văn hóa nào cũng đều có 6 trạng thái tâm lí ( hạnh phúc, buồn khổ, giận dữ, sợ hãi, ghét, ngạc nhiên) và tất cả các trạng thái tâm lí đó đều do sự chi phối của não, tạo ra những thay đổi trên mặt và có chung cách biểu lộ cảm xúc trên mặt như vui, buồn, giận dữ, sợ hãi, ghét hay ngạc nhiên, … vv. Do vậy, trong trường hợp ngôn ngữ bất đồng, cách giao tiếp hiệu quả nhất chính là giao tiếp phi ngôn từ- giao tiếp cơ thể. Chúng ta có thể dùng những dấu hiệu giao tiếp đơn giản như gật đầu, chỉ tay, bắt tay, cười, …. để giao tiếp.

4. Ý nghĩa  của ngôn ngữ cử chỉ ở một số nền văn hóa khác nhau

- Gật đầu có nghĩa: “Tôi đồng ý” ở hầu hết các quốc gia. Tuy nhiên ở một số nơi tại Hi lạp, Bungary, Thổ nhĩ kỳ và Yugoslavia thì lại có nghĩa ngược lại là: “ Tôi không đồng ý”

Ở Nhật, gật đầu không nhất thiết là “đồng ý” mà là dấu hiệu cho biết người nghe hiểu bạn đang nói gì.

Người Bungary gật đầu là “ không” và lắc đầu lại là “ có”

- Hất đầu ra sau có nghĩa “Đồng ý” ở Thái lan, Philipines, Ấn độ và Lào.

- Nhướn lông mày: “Đồng ý” ở Thái lan và một số nước khác ở châu Á . Còn ở Philipines lại có nghĩa: “ Xin chào”

- Nháy mắt: “Tôi có bí mật muốn chia xe với anh nè!” ở nước Mỹ và một số nước châu Âu. Nháy mắt còn là dấu hiệu tán tỉnh người khác giới ở một số quốc gia, trong đó có Việt nam.

- Mắt lim dim: “Chán quá” hay “Buồn ngủ quá” ở Mỹ. Nhưng ở Nhật và Thái lan, Trung quốc thì lại có nghĩa: “ Tôi đang lẵng nghe đây” .

- Vỗ nhẹ (bằng ngón trỏ) lên mũi: “ Bí mật đó nha!” Ở Anh, nhưng lại có nghĩa: “Coi chừng!” hay “ Cẩn thận đó!”  ở Ý.

- Khua tay: Người Ý thường xuyên khua tay khi trò chuyện nhưng ở Nhật, khua tay khi nói chuyện bị coi là bất lịch sự.

- Khoanh tay: Ở một số quốc gia, khoanh tay có nghĩa là: “Tôi đang phòng thủ” hoặc  “Tôi không đồng ý với anh đâu”.

- Dấu hiệu “ OK” : ( ngón cái và ngón trỏ tạo thành chữ O)

 “Tốt đẹp” hay “ Ổn cả” ở Mỹ.

Người Đức hiểu là “Đồ ngu” hay “ Đồ đáng khinh”

Người Pháp hiểu như là “zero” hay “ vô giá trị”

Ở Nhật là dấu hiệu của tiền bạc

Là sự sỉ nhục người khác ở Hy lạp, Brazin, Ý, Thổ nhĩ kỳ, Nga và một số nước khác.

- Chỉ trỏ: Ở Bắc Mỹ hay châu Âu, dùng ngón trỏ để chỉ là chuyện bình thường.

Ở Nhật bản, Trung quốc mà chỉ người khác bằng ngón tay trỏ bị xem là bất kính và vô cùng bất lịch sự. Người ta thường dùng cả bàn tay để chỉ ai đó hay vấn đề gì đó.

- Nhìn thẳng vào mắt khi giao tiếp: Thể hiện sự tự tin của người giao tiếp ở các quốc gia thuộc Châu Âu, Canada, Mỹ  nhưng ngược lại đối với người Nhật thì việc nhìn chằm chằm vào mắt người giao tiếp, đặc biệt là đối với người mới quen hay người cấp trên bị xem là bất lịch sự.

- Cử chỉ “ chạm” tùy theo từng nền văn hóa mà được đón nhận hay không đón nhận đối với mỗi cá nhân. Nói chung, ở các nước như Pháp, các nước Mỹ La tinh, Israel, Hy lạp và Ả rập, người ta thường chạm tay vào đối phương khi giao tiếp hơn là so với những nước như Đức, Anh, Nhật và các nước Bắc Mỹ. Người Mỹ thường siết và lắc tay người đối dieenjddeer bày tỏ sự tin tưởng.

Ở một số nước, việc chạm tay vào đối phương được xem là để nhấn mạnh điều gì đó. Hay, cử chỉ đặt tay lên vai người khác, thậm chí đặt tay lên tay người khác được xem là cử chỉ thể hiện sự tin tưởng và đồng thuận. Ngược lại, ở một số nơi, những cử chỉ này bị xem là suồng sã, vượt quá giới hạn, thậm chí là quấy rối tình dục.

Ở Ả rập, hai người cùng giới tính có thể chào nhau bằng cách hôn  vào má nhau hoặc nắm tay nhau bước đi, nhưng các đồng nghiệp khác giới sẽ không có sự đụng chạm như vậy.

- Bắt tay: Cử chỉ chào hỏi phổ biến mà các doanh nhân trên thế giới hay dùng là bắt tay, nhưng ngay trong cách bắt tay cũng thể hiện những nét văn hóa khác biệt. Ở Mỹ, người ta thường siết và lắc tay đối phương để tỏ sự tự tin. Người Anh thường lắc tay từ ba đến năm lần. Ở Đức hay Pháp, bóp nhẹ và lắc tay từ một đến hai lần là đủ. Người châu Á bắt tay nhẹ và từ tốn. Người Mỹ La tinh thường bắt tay nhẹ và giữ lâu bởi vì rút tay về quá sớm có thể bị xem là cử chỉ coi thường đối phương

Cử chỉ bắt tay không phổ biến ở một số nước, chẳng hạn như ở Nhật và Hàn quốc, thay vì bắt tay, họ sẽ nghiêng mình cúi chào nhau. Người Ấn độ chào nhau bằng cách chắp hai tay vào nhau như cầu nguyện. Người Ả Rập và một số nước Hồi giáo thì dùng lòng bàn tay phải đặt lên tim rồi đưa ra ngoài.

- Nhìn : Ở mỗi nền văn hóa, cử chỉ giao tiếp bằng mắt lại mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Khi nói chuyện, người Phần lan và người Pháp thường nhìn thẳng vào mắt đối phương trong khi đó người Nhật  và Hàn quốc lại tránh nhìn vào mắt nhau vì xem đó là cử chỉ suồng sã, bất lịch sự. Ở Mỹ người ta chỉ nhìn thẳng vào mắt nhau khoảng nửa giây; trong khi ở Ý, Tây Ban Nha và các nước Mỹ  La-tinh, thời gian nhìn vào mắt nhau có thể kéo dài hơn. Ở một số nơi, nhìn xuống là cách tránh nhìn vào mắt đối phương và được xem là dấu hiệu của sự tôn kính. Ở một số nước châu Phi, nếu người có địa vị thấp hơn mà nhìn thẳng vào mắt đối phương sẽ bị cho là bất kính. Ở Đông Nam Á, người ta chỉ nhìn vào mắt nhau khi mối quan hệ đã được thiết lập bền vững.

5. Kỹ năng và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ cơ thể.

Như đã trình bầy ở trên,  Hiểu và sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách đúng lúc, đúng chỗ càng tôn thêm vẻ đẹp và sự tự tin của người giao tiếp, giúp họ thuận lợi hơn trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp. Qua thực tế cho thấy, thành công trong công việc gắn liền với trình độ và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ không lời.

- Mỗi người trong mọi xã hội đều có khả năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong giao tiếp dưới nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên không phải ai sinh ra cũng có sẵn những kỹ năng trong việc “giải mã”- đọc chính xác được các dấu hiệu không lời từ đối phương và sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách hiệu quả. Vậy làm thế nào để chúng ta cải thiện được kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ của mình? Các chuyên gia khuyên rằng:

+ Rèn luyện: Phần nhiều cử chỉ là phản xạ tự nhiên, tự động kết hợp với những gì có trong tâm trí chúng ta khi đang suy nghĩ tại bất kỳ thời điểm nào để thể hiện ra bên ngoài mà hầu như ta hoàn toàn không tự nhận biết về ngôn ngữ cơ thể của riêng mình. (Chẳng hạn, nhiều người trong khi giao tiếp với người khác lại thường hoặc cho chân lên ghế, hoặc rung đùi, khua tay múa chân, ngoáy tai, ngoáy mũi, xỉa răng vv…).Vẫn biết đó là những cử chỉ không đẹp trong giao tiếp nhưng không phải ai cũng có thể bỗng dưng loại trừ chúng trong quá trình giao tiếp của mình một khi chúng đã trở thành thói quen vô thức. Trong thực tế, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ cơ thể thông qua những biểu hiện rất đơn giản, nhưng để cải thiện khả năng giao tiếp đòi hỏi mỗi người phải tinh tế, khéo léo, học hỏi, rèn luyện bằng cách tập chú ý quan sát thái độ và hành vi của đối phương để nhận thức cái hay, cái dở, bắt chước những cử chỉ đẹp, loại bỏ những hành vi xấu nhằm điều chỉnh cử chỉ, hành động của mình một cách hợp lí, kiềm chế được ngôn ngữ cơ thể, khiến mỗi chúng ta trở nên tinh tế hơn trong giao tiếp.

+ Hãy bắt đầu bằng nụ cười. Một nụ cười chân thật là bước khởi đầu để mở những cánh cửa tiếp theo, sưởi ấm mọi trái tim đồng thời xây dựng sự tin tưởng vào các mối quan hệ tôn trọng.

+ Chú ý tới những hành động phi ngôn ngữ của người khác sẽ giúp bạn cải thiện được kỹ năng giao tiếp của mình bởi ngoài ý nghĩa của ngôn từ, tất cả những tín hiệu của những cử chỉ đều phát đi những thông tin quan trọng. Đặc biệt theo dõi cử chỉ và lời lói có ăn khớp với nhau không. Các nhà nghiên cứu nói rằng khi ngôn ngữ không ăn khớp với các tín hiệu phi ngôn ngữ thì người ta sẽ bỏ qua những lời bạn nói và chỉ chú ý tói các biểu hiện phi ngôn ngữ bao gồm tính khí, suy nghĩ và cảm xúc.

+ Hiểu chính xác tín hiệu giao tiếp và sử dụng hợp lí tín hiệu. Trong giao tiếp, ngoài việc để ý đến các cử chỉ điệu bộ và thông điệp của người đối diện, bạn còn phải biết cách đọc được những cử chỉ của người ấy và ý nghĩa của chúng. Khi có được kinh nghiệm đó, bạn sẽ nhận biết được người đối diện, nhận biết bản thân và kiểm soát bản thân cũng như người đối diện bằng hành động phi ngôn ngữ. Hãy luôn nắm bắt tín hiệu theo nhóm. Một cử chỉ đơn lẻ có thể ám chỉ nhiều điều nhưng có khi cũng chẳng là gì hết. Thái độ tổng thể của một người nói lên nhiều điều hơn là một hành động riêng rẽ của họ. Chìa khóa để đọc chính xác các hành động phi ngôn ngữ là nhìn vào những nhớm tín hiệu nhằm nhấn mạnh một điểm chung. Nếu bạn chỉ tập trung tới một tín hiệu trong số rất nhiều tín hiệu thì rất có khả năng bạn sẽ hiểu lầm ý người khác. Ngôn ngữ cơ thể phản ánh cảm xúc thực sự bên trong con người nên hiểu được nó, bạn có thể sử dụng chúng một cách có lợi nhất.

Trong khi truyền tải một thông điệp, việc sử dụng tín hiệu phi ngôn ngữ và cử chỉ để nhấn mạnh khiến cho giao tiếp của bạn hiệu quả và ý nghĩa hơn. Tuy nhiên bạn cũng đừng nên vung tay, vung chân quá nhiều khi nói khiến người nghe nghĩ bạn quá bốc đồng, không thể kiểm soát được hành vi của mình.

+ Hỏi những câu hỏi để hiểu rõ về các dấu hiệu phi ngôn ngữ của đối phương nếu bạn không hiểu và bạn cũng có thể lí giải lại cách hiểu của mình và hỏi xem mình hiểu như vậy đã đúng chưa.

+ Chú ý tới âm lượng của giọng nói. Âm lượng giọng nói của bạn có thể truyền đạt được một lượng lớn thông tin, thể hiện sự nhiệt tình hay thờ ơ của bạn. Hãy chú ý xem âm lượng giọng nói của bạn tác động thế nào tới phản ứng của người khác đối với bạn và cố gắng sử dụng âm lượng của giọng nói để nhấn mạnh những ý tưởng mà bạn muốn diễn đạt.

+ Sử dụng phương thức giao tiếp bằng mắt bởi đây là một phần quan trọng trong quá trình giao tiếp. Tuy nhiên giao tiếp bằng mắt bao nhiêu là đủ?  Một số chuyên gia khuyên rằng khoảng thời gian cho mỗi lần giao tiếp bằng mắt nên kéo dài 4-5 giây. Nếu giao tiếp bằng mắt quá lâu hay nhìn chằm chằm vào mắt đối phương thì có thể bị xem là một sự đối đầu và dọa nạt. Ngược lại không nhìn vào mắt đối phương trong khi giao tiếp thì sẽ bị hiểu như bạn đang muốn lảng tránh hoặc cố tình che giấu một điều gì đó.

Tuy nhiên điều mà bạn lưu ý nhất khi giao tiếp bằng mắt chính là sự tự nhiên, tùy theo lời nói, cảm xúc mà có nhu cầu giao tiếp bằng mắt hay không. Thông thường, giao tiếp bằng mắt với tỷ lệ 60% là một con số an toàn, vừa đủ để làm người đối thoại có cảm tình với bạn.

+ Xem bối cảnh, đối tượng giao tiếp. Khi bạn đang giao tiếp với nhiều người, luôn chú ý tới tình huống và bối cảnh của cuộc đàm thoại. Chẳng hạn cách cư xử trang trọng được xem là thích hợp trong tình huống này nhưng lại bị xem là lạc lõng trong những bối cảnh khác. Còn giao tiếp với những người cao tuổi, phụ nữ, trẻ em, … ở những hoàn cảnh cụ thể có thể khác nhau tùy vào từng nền văn hóa.

6. Những tai nạn dễ gặp và những cử chỉ cần tránh khi giao tiếp phi ngôn ngữ.

Các cử chỉ của chúng ta đều được người khác diễn giải trong tâm trí của họ trong khi ta hầu như hoàn toàn không tự nhận biết về ngôn ngữ cơ thể của mình. Do không phải tất cả các diễn giải ngôn ngữ cơ thể đều là đúng nên trong giao tiếp nó thường gây nên sự hiểu lầm. Vì thế để tránh những tai nạn do hiểu lầm trong khi giao tiếp phi ngôn ngữ gây nên, chúng ta cần tránh sử dụng những cử chỉ sau:

+ Xem đồng hồ, ngắm móng tay, nhìn đi chỗ khác, ngáp vặt, hay không trực tiếp đối mặt khi đang nói chuyện với một ai đó khiến đối phương cảm thấy bạn đang không có hứng thú giao tiếp.

+ Gãi đầu, gãi cổ, ngoáy tai, ngoáy mũi, rung đùi, nhổ râu, xỉa răng …vv khi giao tiếp khiến bạn bị đánh giá thuộc người văn hóa thấp.

+Xoa cằm của bạn trong khi nhìn ai đó khiến họ có thể cho rằng bạn đang đánh giá, phán xét họ.

+ Qúa áp sát người nói chuyện (trừ sự thân mật) khiến mọi người cảm thấy khó chịu bởi cảm thấy họ bị lấn át.

+ Nhìn xuống khi giao tiếp thường bị cho là không quan tâm, đôi khi thậm chí còn bị xem như là một dấu hiệu của kiêu ngạo.

+ Khoanh tay trước ngực được hiểu là bạn đang trong tư thế tự vệ hay không đồng tình những gì người ta nói.

+ Cử động hoặc lắc lư cơ thể, thay đổi chân quá nhiều khiến cho người đang đối thoại nghĩ rằng bạn đang sốt ruột về điều gì đó, muốn nói nhanh cho xong.

+ Nhìn chằm chằm vào người nói chuyện khiến bạn bị cho là hợm hĩnh hoặc đang bực tức điều gì.

+ Lấy tay che miệng khi giao tiếp thường gây cho đối phương có cảm giác bạn không cởi mở và nghi ngờ điều bạn nói.

7. Vận dụng ngôn ngữ cơ thể trong dạy học ngoại ngữ.

Như vây, rõ ràng chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng cũng như sức mạnh của ngôn ngữ cơ thể trong giao tiếp nói chung. Đặc biệt trong việc dạy học ngoại ngữ, khi nắm vững một số kỹ năng ngôn ngữ cơ thể thông dụng, người giáo viên sẽ không chỉ đọc chính xác các dấu hiệu không lời từ học sinh, mà còn biết sử dụng ngôn ngữ không lời một cách hiệu quả trong việc thuyết trình, truyền đạt và giảng dạy ngoại ngữ tốt hơn. Thực tế cho thấy, thành công trong công việc giảng dạy ngoại ngữ cũng gắn liền với trình độ và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ không lời. Một bài giảng hay, tạo nên sự lôi cuốn người học khi được giáo viên kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố ngôn ngữ, giọng điệu và ngôn ngữ cơ thể (điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười…). Trong khi giảng bài, ánh mắt của giáo viên cũng làm nhiệm vụ truyền đạt thông tin và thể hiện tình cảm, nhiệt huyết của mình, làm ảnh hưởng và lan tỏa đến người nghe. Người học có thể từ đôi mắt của thầy mà cảm nhận được cái hồn của bài giảng rồi đọng lại trong tâm trí họ. Dạy ngoại ngữ là một quá trình giúp người học sử dụng được một ngôn ngữ của một nền văn hóa mới, khác với chúng ta về cách sống, và cách thể hiện hành vi, cử chỉ giao tiếp. Việc giáo viên hiểu và sử dụng đúng ngôn ngữ cử chỉ của cả hai nền văn hóa khác nhau là vô cùng quan trọng, giúp truyền tải nội dung, ý nghĩa của từ vựng, cụm từ, thành ngữ, ngữ pháp,…. một cách nhanh và chính xác hơn, giúp cho việc dạy thực hành những bài hội thoại được sinh động và dễ hiểu hơn. Ngoài ra, việc phát huy những cử chỉ thân thiện như gật đầu, mỉm cười, ánh mắt nhìn động viên, khích lệ, … sẽ khiến cho người học có thêm động lực, chăm chỉ và yêu thích môn học hơn.

Kết luận: Ngôn ngữ cơ thể làm phong phú thêm ngôn ngữ nói và cách giao tiếp. Đôi khi không cần nói mà ánh mắt, vẻ mặt của bạn đã nói lên tất cả tâm tình của bạn. Ứng dụng của ngôn ngữ cơ thể có thể được biểu hiện qua giao tiếp hàng ngày, trong cả cuộc sống và trong công việc …. Sự kết hợp giữa lời nói và cử chỉ sẽ giúp chúng ta thể hiện bản thân một cách toàn diện và gây ấn tượng mạnh hơn với người nghe. Tuy nhiên, ngôn ngữ cơ thể phải được sử dụng một cáchhợp lí, tế nhị và bài bản ngay từ khi bắt đầu mọi cuộc giao tiếp. Tránh lạm dụng quá mức sẽ dẫn tới phản tác dụng. Nếu thực hiện đúng, nó sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian và hạn chế những xung đột hay tai nạn giao tiếp không đáng có.

 

Tài liệu tham khảo

1. “ Sức mạnh của ngôn ngữ không lời” “ The Nonverbal advantage” Secrets and science of Body language at work -Carol Kinsey Goman 

2. “ How to talk to anyone, anytime and anywhere” The secrets of good communication - Larry King

3. “ How to instantly connect with anyone” - Leil Lownders

4. Body language is of particular importance in large groups (Tarnow, Dr. Eugen. 1997)

5. “Reading her Body language” - Mecia Goncalves

6. “ Ngôn ngữ cơ thể” - Allan Barbara Pease

7. “ Giải mã sức hút cá nhân” - Andrew Leigh

8. “ Ngôn ngữ kí hiệu” – Tủ sách mở Wikibook

 

Bài: Nguyễn Thanh Huyền

Giảng viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa quốc tế

 

 

 

Admin3
Lượt xem: 242435
Xem nhiều
Right Tuyen sinh DH
TSNK
Right - tuyen sinh SDH
Right - tuyen sinh VLVH
Right - NCVH
Right - Hợp tác quốc tế
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - Gallery
Right - NCVH
Right - Hợp tác quốc tế
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - Gallery
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 18
Lượt truy cập: 1.512.751