Đang thực hiện

Top banner

Lỗi phát âm tiếng Anh thường gặp của sinh viên không chuyên, nguyên nhân và biện pháp khắc phục

Đăng ngày: 13/07/2014

(ĐHVH) - Phát âm giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong giao tiếp nói chung và trong việc học ngoại ngữ nói riêng. Rất hiển nhiên rằng dù vốn từ vựng của người học tiếng Anh có phong phú đến đâu chăng nữa nhưng cũng sẽ là vô ích nếu người khác không hiểu họ nói gì. Thực tế cho thấy rất nhiều sinh viên không chuyên mắc lỗi phát âm tiếng Anh trong khi giao tiếp, mặc dù họ có thể rất giỏi về phương diện ngữ pháp và từ vựng. Vậy những lỗi phát âm đó là gì và làm sao để khắc phục chúng? Bài viết mang đến cho sinh viên cái nhìn sơ lược về phát âm và các khía cạnh của phát âm trong tiếng Anh. Quan trọng hơn, bài viết chỉ ra một số lỗi mà sinh viên không chuyên thường mắc phải khi phát âm tiếng Anh để từ đó đề xuất các giải pháp giúp họ tránh mắc lỗi phát âm trong khi giao tiếp bằng tiếng Anh.

1.Phát âm

Các nhà khoa học đưa ra định nghĩa về phát âm theo các cách khác nhau.

Theo Ur (1996) thì phát âm bao gồm các âm thanh có trong ngôn ngữ và âm vị học; trọng âm và nhịp điệu; ngữ điệu; sự kết hợp âm; sự nối âm.

Trong cuốn ‘Dictionary of Contemporary English-Longman’ (1978), phát âm được định nghĩa đơn giản là ‘cách mà một từ thường được nói ra.’

Dalton (1994) lại miêu tả phát âm là ‘sự tạo ra một âm thanh theo 2 nghĩa. Theo nghĩa thứ nhất, phát âm được nói tới như là sụ sản sinh và tiếp nhận của âm thanh. Theo nghĩa thứ hai, âm thanh được sử dụng để đạt được hiệu quả giao tiếp trong các ngữ cảnh khác nhau.’

Nói tóm lại, dù được hiểu theo cách nào thì vai trò của phát âm là không thể phủ nhận được trong quá trình giao tiếp, đặc biệt là trong việc học ngoại ngữ.

* Các khía cạnh của phát âm

‘Ngữ âm và Âm vị học’ là một đề tài khá rộng lớn. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới một vài khái niệm cơ bản về phát âm và các khía cạnh của phát âm trong tiếng Anh.

- Nguyên âm và phụ âm

Theo Gimson (1962), âm trong tiếng Anh gồm 2 loại: nguyên âm và phụ âm. Chúng có chức năng khác nhau trong 1 âm tiết. Mỗi âm tiết có 1 nguyên âm ở giữa và các phụ âm ở đằng trước hoặc sau nó.

- Trọng âm của từ

Trong cuốn ‘Teaching English Pronunciation’, Kenworthy (1987) cho rằng khi 1 từ tiếng Anh có nhiều hơn 1 âm tiết thì bao giờ một trong số các âm tiết đó cũng nổi trội hơn so với các âm tiết còn lại (được phát âm to hơn, giữ nguyên âm lâu hơn, phụ âm được phát âm rõ ràng hơn). Những đặc điểm này làm cho âm tiết đó mang trọng âm.

- Ngữ điệu

Nguyễn Bàng và Nguyễn Bá Ngọc (2001) miêu tả lời nói cũng giống như âm nhạc, trong đó có sự thay đổi về cường độ hay mức độ giọng nói: người nói có thể thay đổi cường độ giọng nói khi họ phát ngôn, làm cho nó cao hơn hoặc thấp hơn tùy ý. Do vậy có thể nói lời nói cũng có giai điệu, gọi là ngữ điệu.

* Sự khác nhau cơ bản giữa phát âm tiếng Anh và tiếng Việt

Trong phần này, một vài điểm khác biệt cơ bản giữa phát âm tiếng Anh và phát âm tiếng Việt sẽ được đề cập tới như một minh chứng cho thấy một số âm tố trong tiếng Anh không có trong tiếng Việt và chính điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho sinh viên không chuyên trong quá trình phát âm tiếng Anh.

- Phụ âm

Tiếng Anh có 24 phụ âm nhưng trong tiếng Việt chỉ có 21 phụ âm. Một vài phụ âm tồn tại trong tiếng Anh nhưng trong tiếng Việt thì lại không có và ngược lại.

Trong tiếng Việt, 1 chữ cái thường đại diện cho cùng 1 âm vị. Tuy nhiên, vài âm vị trong tiếng Anh có thể thể hiện bằng cùng một chữ cái nhưng phát âm khác nhau.

Ví dụ: ‘k’ trong các từ sau biểu thị các âm vị khác nhau và phát âm cũng khác nhau:

kite  /kaɪt/

knee  /ni/

Trong tiếng Việt, âm tiết và từ không được nối với nhau mà phân biệt riêng rẽ. Tiếng Anh xuất hiện hiện tượng nối âm.

Ví dụ:  Tiếng Việt:     Không có gì

            Tiếng Anh:      Not at all --> No ta tall

Tiếng Anh có hiện tượng chuỗi các phụ âm (sequences of consonants) ở vị trí đầu như street /strit/ và vị trí cuối như sixth /sɪksθ/. Tiếng Việt không có hiện tượng này.

- Nguyên âm

Có 2 trong 7 nguyên âm ngắn trong tiếng Anh không có trong tiếng Việt là: /ʌ/ /æ/. Hơn nữa, tiếng Việt không có sự phân biệt giữa nguyên âm ngắn và nguyên âm dài, ví dụ: /ʌ/ /a:/

Đây thực sự là một trở ngại cho các sinh viên không chuyên. Họ không thể phát âm chính xác một số từ mà không nhìn vào phần phiên âm trong từ điển.

- Chính tả và âm thanh

Trong tiếng Việt, một chữ cái thường được biểu thị bằng cùng một âm vị, trừ /ŋ/ (ng,ngh); /k/ (c,k).

Trong tiếng Anh, cùng 1 chữ cái có thể biểu thị các âm khác nhau. Ví dụ:

‘a’ trong các từ sau có cách đọc khác nhau:

arm /ɑ:m/;       hat /hæt/;        may /meɪ/

Bên cạnh đó, 1 số chữ cái không được phát âm (silent letters)

Ví dụ:  hour /aʊər/                  listen /lɪsn/    

knee /ni/                      comb /ʊm/

- Trọng âm

Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết (monosyllabic language) trong khi tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm tiết (polysyllabic language). Hầu hết các từ trong tiếng Việt chỉ có 1 âm tiết nên hiện tượng âm tiết không mang trọng âm không tồn tại trong tiếng Việt.

- Ngữ điệu

Trong ‘Ngữ Âm tiếng Việt’ của Đoàn Thiện Thuật, tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu được thể hiện trong từng từ. Tiếng Việt có 6 thanh:

Thanh sắc (acute tone), ví dụ: bé                   Thanh ngã (tilde tone), ví dụ: bẽ

Thanh bằng (grave tone), ví dụ: bè                Thanh hỏi (drop tone), ví dụ: bẻ

Thanh nặng (falling tone), ví dụ: bẹ              Thanh không (zero tone), ví dụ: be

2.Lỗi phát âm và nguyên nhân

Trong mục này, một vài lỗi mà sinh viên không chuyên thường mắc phải khi phát âm tiếng Anh cùng với nguyên nhân của chúng sẽ được xem xét cụ thể.

* Lỗi phát âm thường gặp

Hầu hết sinh viên không chuyên có xu hướng sử dụng những thói quen trong phát âm tiếng Việt vào việc phát âm tiếng Anh. Có một lỗi dễ nhận thấy nhất là họ thường không bật hoặc ‘nuốt’ gọn phụ âm cuối của các từ tiếng Anh. Điều này cũng dễ hiểu vì các phụ âm cuối trong tiếng Việt đều không bật hơi. Việc ‘phớt lờ’ hay ‘nuốt’ các phụ âm cuối sẽ gây ra rất nhiều sự hiểu lầm tai hại.

Ví dụ: Những người nói tiếng Anh có thể bị hiểu nhầm khi một sinh viên Việt Nam phát âm từ ‘six’ mà không bật phụ âm cuối. Họ có thể tưởng là người nói ám chỉ từ ‘sick’.

Trên thực tế, có rất nhiều từ tiếng Anh chỉ có thể phân biệt được chính xác nhờ các phụ âm cuối bật như: nice, nine, night, ninth, knight,...

Bởi vậy, điều rất quan trọng giúp người nghe hiểu đúng các từ tiếng Anh là người nói phải bật âm cuối một cách gãy gọn và chuẩn xác. Nếu không phát âm chuẩn phụ âm cuối, người nói có thể rơi vào những tình huống khó xử trong giao tiếp.

Bên cạnh đó, có khá nhiều lỗi mà sinh viên không chuyên thường mắc phải khi phát âm tiếng Anh như: nhầm lẫn giữa âm vị và âm thanh; không thể phát âm được một số âm vị trong tiếng Anh; sai trọng âm; ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ trong phát âm; bỏ 1 hoặc 1 vài phụ âm trong nhóm 3 phụ âm; không nối các âm; sai ngữ điệu; không phân biệt dạng phát âm mạnh và yếu các từ chức năng,...

Với tư cách là những người trực tiếp giảng dạy, chúng tôi đã thống kê được một vài lỗi phát âm tiếng Anh thường gặp của sinh viên không chuyên.

STT

Lỗi phát âm

Ví dụ

1

/ð/ thường phát âm thành /z/ hay /d/

this /ðɪs/

2

/θ/ phát âm thành /t/ hoặc /th/ trong tiếng Việt

thank /θæŋk/

3

/j/ thường phát âm giống như /z/

yet /jet/

4

/æ/ bị nhầm lẫn với /e/

hat /hæt/

5

ʊ/ bị thay thế bởi /ô/ trong tiếng Việt

home /ʊm/

6

/ʃ/ bị nhầm lẫn với /s/

show /ʃəʊ/

7

Nhầm lẫn giữa /tʃ/ với /tr/ trong tiếng Việt

chicken /’tʃɪkɪn/

8

/ʒ/ và /dʒ/ bị thay thế bởi /z/

television /‘telɪvɪʒn/

9

/p/, /t/, /k/ thường phát âm theo lối tiếng Việt

pen /pen/, ten /ten/, book /bʊk/

10

Không phát âm phụ âm cuối

file /faɪl/

11

Bỏ 1 hoặc 1 vài phụ âm trong nhóm 3 phụ âm

sixth /sɪksθ/

12

Không phân biệt nguyên âm ngắn và nguyên âm dài

/ʌ/ và /a:/

13

/eɪ/ phát âm như /ê/ trong tiếng Việt

late /leɪt/

14

/aʊ/ phát âm thành /ao/

how /haʊ/

15

Không phân biệt dạng phát âm mạnh và yếu

and /ənd/

16

Không nối các âm (phụ âm cuối của từ trước với nguyên âm đầu của từ sau)

Not at all

17

Không nhấn trọng âm với từ có 2 âm tiết trở lên

teacher /’titʃər/

18

Xuống giọng ở câu hỏi Có/Không (Yes/No questions)

Are you?

19

Lên giọng ở câu hỏi có từ để hỏi (Wh-questions)

Why are you here?

20

Không có ngữ điệu

 


* Nguyên nhân

Nguyên nhân gây ra một số lỗi thường gặp trong khi phát âm tiếng Anh của sinh viên không chuyên sẽ được trình bày trong bảng sau.

STT

Lỗi phát âm

Nguyên nhân

1

/ð/ thường phát âm thành /z/ hay /d/

/ð/ không có trong tiếng Việt

2

/θ/ phát âm thành /t/ hoặc /th/ trong tiếng Việt

/θ/ không có trong tiếng Việt

3

/j/ thường phát âm giống như /z/

/j/ không có trong tiếng Việt

4

/æ/ bị nhầm lẫn với /e/

/æ/ không có trong tiếng Việt

5

ʊ/ bị thay thế bởi /ô/ trong tiếng Việt

Nhầm lẫn

6

/ʃ/ bị nhầm lẫn với /s/

/ʃ/ không có trong tiếng Việt

7

Nhầm lẫn giữa /tʃ/ với /tr/ trong tiếng Việt

Nhầm lẫn

8

/ʒ/ và /dʒ/ bị thay thế bởi /z/

/ʒ/ và /dʒ/ không có trong tiếng Việt

9

/p/, /t/, /k/ thường phát âm theo lối tiếng Việt

Không bật hơi

10

Không phát âm phụ âm cuối

Ảnh hưởng của tiếng Việt

11

Bỏ 1 hoặc 1 vài phụ âm trong nhóm 3 phụ âm

Ảnh hưởng của tiếng Việt

12

Không phân biệt nguyên âm ngắn và nguyên âm dài

Không có sự phân biệt nguyên âm ngắn và nguyên âm dài trong tiếng Việt

13

/eɪ/ phát âm như /ê/ trong tiếng Việt

Ảnh hưởng của tiếng Việt

14

/aʊ/ phát âm thành /ao/

Ảnh hưởng của tiếng Việt

15

Không phân biệt dạng phát âm mạnh và yếu

Ảnh hưởng của tiếng Việt

16

Không nối các âm (phụ âm cuối của từ trước với nguyên âm đầu của từ sau)

Không có sự nối âm trong tiếng Việt

17

Không nhấn trọng âm với từ có 2 âm tiết trở lên

Ảnh hưởng của tiếng Việt

18

Xuống giọng ở câu hỏi Có/Không (Yes/No questions)

Ảnh hưởng của tiếng Việt

19

Lên giọng ở câu hỏi có từ để hỏi (Wh-questions)

Ảnh hưởng của tiếng Việt

20

Không có ngữ điệu

Ảnh hưởng của tiếng Việt

Như đã chỉ ra ở trên, rõ ràng rằng sự ảnh hưởng lớn của tiếng Việt tới việc phát âm tiếng Anh là nguyên nhân chủ yếu gây ra các lỗi trong khi phát âm của sinh viên không chuyên. Ngoài ra, theo kết quả khảo sát được từ khoảng 100 sinh viên không chuyên năm thứ nhất trường Đại học Văn hóa Hà Nội thì họ cũng gặp phải khá nhiều khó khăn trong khi phát âm các từ tiếng Anh. Vì vậy, cũng có thể xem xét những nguyên nhân sau đây dẫn tới việc sinh viên không chuyên thường xuyên mắc lỗi phát âm trong khi giao tiếp bằng tiếng Anh.

 Trước hết, kết quả khảo sát cho thấy phần nhiều sinh viên không chuyên không biết đọc phần phiên âm (phonetic transcription) trong từ điển. Đây có thể coi là một trở ngại lớn cho sinh viên trong việc học phát âm vì nếu không thể đọc được phần phiên âm thì họ sẽ phát âm sai và quan trọng là không tự sửa lỗi được.

Hơn nữa, hầu hết sinh viên không có hoặc có rất ít cơ hội giao tiếp với những người đến từ các nước nói tiếng Anh. Rõ ràng rằng họ thiếu môi trường tự nhiên để học phát âm tiếng Anh. Do đó, họ khó có thể phát âm các từ tiếng Anh một cách chuẩn xác.

Bên cạnh đó, thời gian phân bổ cho việc học phát âm trên lớp cũng không nhiều nên sinh viên thiếu cả môi trường tự nhiên và môi trường tự tạo để thực hành và cải thiện phần phát âm.

Ngoài ra, khi được hỏi về cách thức để luyện phần phát âm tiếng Anh, những sinh viên chưa phát âm tốt thì thường đọc to từ mới vài lần cho nhớ. Trong khi đó, một số sinh viên phát âm tiếng Anh tương đối tốt nói rằng họ thường nhắc lại từ theo giáo viên hoặc theo băng đĩa, xem phim không có phụ đề hoặc giao tiếp với những người giỏi tiếng Anh để cải thiện phần phát âm của mình. Điều này cho thấy sinh viên đã có ý thức, chủ động, tích cực và sáng tạo trong việc luyện phát âm nhưng có điều họ thường luyện cá nhân chứ không theo cặp hay theo nhóm. Chính vì vậy sinh viên khó có thể tự mình sửa lỗi.

Khi đề cập tới việc sửa lỗi của giáo viên, phần đông sinh viên cho rằng giáo viên không thường xuyên sửa lỗi phát âm. Thực tế cho thấy giáo viên không thể dành quá nhiều thời gian trên lớp cho phần ngữ âm nhưng việc sửa lỗi phát âm phải được thực hiện trong suốt giờ học, vào bất cứ lúc nào sinh viên mắc lỗi, nhất là với những lỗi thường gặp.

3.Biện pháp khắc phục

Việc thường xuyên mắc lỗi khi phát âm tiếng Anh sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới hiệu quả giao tiếp của sinh viên không chuyên. Do vậy cần phải có các biện pháp giúp họ cải thiện phần phát âm của mình. Những giải pháp mà chúng tôi xin đưa ra ở đây xuất phát từ cả hai phía: người dạy và người học.

 Về phía người dạy

Trước hết, giáo viên nên ý thức hơn nữa về tầm quan trọng của phát âm để từ đó đầu tư thêm thời gian giúp sinh viên nắm kiến thức cơ bản về phát âm cũng như thực hành phát âm chính xác các âm vị trong tiếng Anh, đặc biệt là những âm vị không có trong tiếng Việt. Chúng tôi cho rằng trong 1 hoặc 2 tuần đầu trước khi bắt đầu năm thứ nhất, sinh viên nên được làm quen với môn Ngữ âm để có thể thực hành phát âm tiếng Anh một cách rõ ràng và chuẩn xác.

Hiện nay, cuốn Lifelines Elementary của Tom Hutchinson đang được sử dụng trong trường. Giáo trình có hệ thống bài tập về ngữ âm đa dạng từ dễ đến khó sẽ giúp sinh viên cải thiện đáng kể phần phát âm nếu được chú trọng và khai thác tốt. Ngoài ra, cuốn English File 1 có hệ thống câu hỏi, bài tập ngữ âm được trình bày, diễn đạt dưới dạng những bài tập vui, hấp dẫn, tiêu biểu là những bài tập ghép tranh với âm vị, từ, cụm từ sẽ làm sinh viên hào hứng hơn với môn ngữ âm, tránh những căng thẳng, nặng nề trong quá trình học tập.

Bên cạnh đó, cùng với việc cung cấp các kiến thức sơ lược về các âm tố trong tiếng Anh, giáo viên nên hướng dẫn sinh viên thực hành phát âm các âm tố này trong chuỗi lời nói, kết hợp với một vài khía cạnh khác của phát âm như cường độ hay ngữ điệu.

Thêm vào đó, giáo viên nên thường xuyên tổ chức các hoạt động thực hành phát âm có hiệu quả cao, đặc biệt với những lỗi phát âm mà sinh viên hay mắc phải. Dưới đây là một vài gợi ý về các hoạt động thực hành phát âm có hiệu quả.

STT

Lỗi phát âm

Hoạt động

1

/ð/ thường phát âm thành /z/ hay /d/

Luyện tập theo cặp từ

2

/θ/ phát âm thành /t/ hoặc /th/ trong tiếng Việt

Luyện tập theo cặp từ

3

/j/ thường phát âm giống như /z/

Luyện tập theo cặp từ

4

/æ/ bị nhầm lẫn với /e/

Luyện tập theo cặp từ

5

ʊ/ bị thay thế bởi /ô/ trong tiếng Việt

Luyện cho lưỡi nhanh nhạy âm ʊ/

6

/ʃ/ bị nhầm lẫn với /s/

Luyện tập theo cặp từ

7

Nhầm lẫn giữa /tʃ/ với /tr/ trong tiếng Việt

Luyện tập theo cặp từ

8

/ʒ/ và /dʒ/ bị thay thế bởi /z/

Luyện tập theo cặp từ

9

/p/, /t/, /k/ thường phát âm theo lối tiếng Việt

Luyện tập nhiều lần (Repetition)

10

Không phát âm phụ âm cuối

Luyện tập nhiều lần (Repetition)

11

Bỏ 1 hoặc 1 vài phụ âm trong nhóm 3 phụ âm

Luyện tập nhiều lần (Repetition)

12

Không phân biệt nguyên âm ngắn và nguyên âm dài

Luyện tập theo cặp từ

13

/eɪ/ phát âm như /ê/ trong tiếng Việt

 Luyện cho lưỡi nhanh nhạy âm /eɪ/

14

/aʊ/ phát âm thành /ao/

Luyện cho lưỡi nhanh nhạy âm /aʊ/

15

Không phân biệt dạng phát âm mạnh và yếu

Luyện tập nhiều lần (Repetition)

16

Không nối các âm (phụ âm cuối của từ trước với nguyên âm đầu của từ sau)

Giải thích; Luyện tập nhiều lần (Repetition)

17

Không nhấn trọng âm với từ có 2 âm tiết trở lên

Luyện tập nhiều lần (Repetition)

18

Xuống giọng ở câu hỏi Có/Không (Yes/No questions)

Bắt chước theo người bản xứ (imitation)

19

Lên giọng ở câu hỏi có từ để hỏi (Wh-questions)

Bắt chước

20

Không có ngữ điệu

Bắt chước


Về phía người học

Chúng tôi cho rằng dù với bất kì lí do gì thì người học luôn là người có vai trò quyết định tới kết quả học tập của chính bản thân mình. Những đề xuất chúng tôi xin đưa ra ở đây sẽ phát huy tác dụng nếu được áp dụng một cách nghiêm túc và đúng đắn.

Để khắc phục các lỗi trong phát âm tiếng Anh, sinh viên phải tạo lập được một hệ thống các thói quen mới tương ứng với các âm tố trong tiếng Anh và quan trọng phải phá vỡ được ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ đã ăn sâu bám rễ. Chúng tôi nhận định rằng chỉ có thể thiết lập được hệ thống thói quen mới này bằng cách thiết lập cách nghe mới, cách nói mới và cách thực hành các cơ quan phát âm mới.

Việc nâng cao khả năng phát âm tiếng Anh chuẩn xác không chỉ là vấn đề của miệt mài nghiên cứu mà là việc thực hành luyện tập để tạo ra các thói quen phát âm mới. Sau đây là một vài thủ thuật luyện tập phát âm tiếng Anh.

Luyện phát âm tiếng Anh từ các phương tiện thông tin đại chúng

Hiện nay, tiếng Anh là thứ tiếng được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Mọi người đều có cơ hội nghe tiếng Anh trên phim ảnh, băng đĩa, trên đài, trên tivi...Bởi vậy, ta có thể tận dụng các phương tiện này để học phát âm.Ví dụ như khi bạn nghe một chương trình nào đó trên đài, bước đầu bạn chỉ nên chú trọng vào việc luyện một âm tố, chẳng hạn như âm /ʃ/. Hãy lắng nghe cẩn thận mỗi khi âm tố đó xuất hiện trong câu, tập trung cao độ vào nó, phát âm âm tố đó trong câu mà bạn vừa nghe được, cố gắng phân biệt nó với với các âm tố dễ gây nhầm lẫn khác.

Dùng băng cassette, đĩa CD

Ngày nay, có rất nhiều băng, đĩa để học phát âm theo mức độ từ dễ đến khó. Nó sẽ giúp chúng  ta nghe và phiên biệt được âm thanh từ nhiều người, từ nhiều vùng miền khác nhau. Hãy ghi âm một câu hoặc một đoạn mà chúng ta nghe được từ băng, đĩa. Sau đó thận trọng nghe và kiểm tra lại xem phần phát âm của mình có chỗ nào không giống với bản gốc, đánh dấu những chỗ ta không thỏa mãn, tiếp tục luyên tập phát âm cho tới khi chắc chắn là đúng. Đặc biệt, phải đọc kỹ lại phần lý thuyết cách cấu tạo âm thanh đó để xem các bộ phận cấu âm hoạt động ra sao trong quá trình phát âm. Nên nhớ hãy bắt đầu học phát âm từ các từ riêng lẻ, không nôn nóng dồn nối các từ thành một chuỗi.

Thực hành phát âm trong ngữ cảnh

Một từ chỉ có thể hiểu được đầy đủ ý nghĩa khi được đặt vào trong ngữ cảnh cụ thể. Bởi vậy, một khi đã luyện tập phát âm một âm tố chuẩn xác, ta phải đặt âm tố đó vào trong câu và trong ngữ cảnh.

Luyện cho lưỡi nhanh nhạy và năng động

Để cho lưỡi của bạn hoạt động có hiệu quả, bạn nên luyện tập các từ hoặc cụm từ khó phát âm đúng và nhanh (tongue twisters).

Ví dụ: She sells sea shells on the sea shore.

 Kết luận

Không thể phủ nhận rằng phát âm giữ vai trò quyết định đến sự thành bại của một người trong giao tiếp. Mặc dù sinh viên không chuyên đã ý thức được tầm quan trọng của phát âm trong giao tiếp (một số đã tích cực, chủ động cho việc luyện tập) nhưng họ vẫn khó có thể tránh khỏi việc mắc lỗi khi phát âm tiếng Anh. Bằng việc đưa ra một số khái niệm cơ bản về phát âm và các khía cạnh của phát âm trong tiếng Anh, kết hợp với những đề xuất cho quá trình luyện tập, chúng tôi hi vọng rằng bài viết sẽ ít nhiều giúp ích cho việc học phát âm của sinh viên không chuyên, đặc biệt là giúp họ giảm đi những lỗi phát âm sai trong quá trình giao tiếp bằng tiếng Anh.

 Tài liệu tham khảo

1. Bang, Nguyen & Ngoc, Nguyen Ba. (2001). A course in TEFL Theory and Practice.CFL-VNUH.

2. Dalton,C. (1994). Pronunciation. OUP.

3. Dictionary of Contemporary English. (1978). Longman.

4. Gimson, A.C. (1962). The Pronunciation of English. Arnold. London.

5. Kenworthy, J.(1987). Teaching English Pronunciation. Longman.

6. Roach, P. (1983). English Phonetics and Phonology.

7. Tam, Ha Cam. Common Pronunciation Problems of Vietnamese learners of English, Journal of Science, T.XXI, No 1-VNU.

8. Thuật, Đoàn Thiện. (1999). Ngữ Âm tiếng Việt. Nxb ĐHQGHN, Hanoi.

9. Ur, Penny. (1996). A Course in Language Teaching: Practice and Theory.Cambridge. London

Bài: Nguyễn Thanh Tâm - GV Khoa Ngôn ngữ & VHQT

Admin2.

hoc mua bán đàn guitar tai tphcm công ty thiết kế web tai tphcm cong ty may áo thun đồng phục hoc phát âm tiếng anh chuan khoa học thiết kế web tphcm tphcm mua container văn phòng cu dia chi thay man hinh iphone tai tphcm thiet bi bếp công nghiệp bep nha hang dai ly ống nhựa tiền phong ong nuoc du an Căn hộ Scenic Valley ban thuoc kich duc nu chuyen thi cong phong karaoke vip
Lượt xem: 29310
Xem nhiều
Right Tuyen sinh DH
TSNK
Right - tuyen sinh SDH
Right - tuyen sinh VLVH
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 3
Lượt truy cập: 1.650.872