Đang thực hiện

Top banner
Chuyên đề
Một Việt Nam khác? Vương quốc họ Nguyễn ở thế kỉ 17 và 18
Vương quốc của họ Nguyễn thế kỷ 17 và 18, kiểm soát khu vực mà sau này Tây Phương biết đến với cái tên Cochinchina, có gốc rễ tại khu vực miền Trung của Việt Nam thời hiện đại. Biên niên sử nhà Nguyễn mô tả Nguyễn Hoàng, giữ chức trấn thủ Thuận Hoá và Quảng Nam, nơi khi đó đánh dấu đường biên giới phía nam của Đại Việt, là người sáng lập vương quốc phía nam. Chiến tranh nổ ra năm 1627 giữa nhà Nguyễn ở phương nam và chính quyền Lê–Trịnh vốn kiểm soát khu vực từ Nghệ An đến đồng bằng sông Hồng.
Tư tưởng chính trị nhị nguyên của Lê Quý Đôn
Khẳng định tư tưởng chính trị nhị nguyên của Lê Quý Đôn là kết quả tương tác của ba yếu tố: Sự suy ngẫm kinh nghiệm chính trị của tiền nhân, sự đúc rút kinh nghiệm chính trị của bản thân và tính quy định của nền chính trị xã hội đương thời, trong bài viết này, tác giả tập trung làm rõ những nội dung chính trong tư tưởng chính trị đó của ông trên hai phương diện: Lý luận chính trị nhị nguyên và tư tưởng chính trị thực hành. Từ đó, tác giả khẳng định tính độc đáo và giá trị đặc sắc của tư tưởng chính trị này trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam.
Quan hệ thương mại của Đại Việt và Java thế kỷ XI-XIV
(ĐHVH) -Trong bài nghiên cứu trước[1], chúng tôi đã giới thiệu về hoạt động giao thương của quốc gia Đại Việt[2] và Java thế kỷ XI – XIV. Bài nghiên cứu này nhằm phác dựng lại và làm sáng rõ thêm quan hệ thương mại của hai dân tộc thời kỳ này - thời kỳ mà, từ thế kỷ X, trong khi Indonesia, với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, đang có khuynh hướng vươn đến sự thống nhất với vai trò của những vương quốc hùng mạnh ở hai đảo Sumatra và Java thì Đại Việt, sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc, đã giành được độc lập và đang cố gắng xây dựng cho mình nền chính trị độc lập, tự chủ, mang đậm bản sắc dân tộc. Nền độc lập, tự chủ của Đại Việt; sự thống nhất dân tộc của Indonesia tạo tiền đề để hai nước hoà mình vào dòng chảy chung của lịch sử khu vực. Bên cạnh quan hệ chính trị - bang giao, cả hai quốc gia Đại Việt và Java cũng đã mở rộng quan hệ thương mại và cùng nhau dự nhập vào hệ thống thương mại nội vùng và liên vùng của khu vực Biển Đông thế kỷ XI - XIV.
Quan hệ của Chân Lạp và Xiêm (Siam) thế kỷ VII-XVI
(ĐHVH) - "…trong các thế kỷ VII - XVI, quan hệ của Chân Lạp và Xiêm là mối quan hệ phức tạp và diễn ra đa dạng dưới nhiều hình thức. Tính chất và hình thức quan hệ luôn biến đổi theo cán cân lực lượng và tham vọng thực tế của hai thể chế này. Nhìn lại diễn tiến của mối quan hệ đó, có thể tham phân lập thành hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất kéo dài từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII và giai đoạn hai từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVI". 
Diễn trình lịch sử cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông
" Bất kỳ chính quyền nào cũng như bất cứ người Việt Nam nào dù khác chính kiến đều coi trọng việc lấy lại Hoàng Sa về với Việt Nam và bảo toàn toàn vẹn Trường Sa. Lịch sử cho biết dù có hàng ngàn năm bị lệ thuộc rồi cũng có ngày với sự kiên cường, bất khuất, khi có thời cơ, sẽ đấu tranh thành công. Đối với các nước Asean trên cơ sở Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, sẽ tương nhượng trong tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong khối càng ngày càng chặt chẽ, đôi bên đều có lợi."
Nghiên cứu và phát triển trong đại học
Nghiên cứu và phát triển (R&D) là một thành tố tối quan trọng trong một trường đại học hiện đại. R&D không những quan trọng về mặt kinh tế, phát triển khoa học nói chung và kỹ năng nghiên cứu nói riêng, mà còn đóng vai trò thiết yếu trong việc cải thiện chất lượng giáo dục.
Lược khảo nội dung bàn về nhà nho Việt Nam đầu thế kỉ XX qua một số bài viết quốc ngữ trên Nam Phong tạp chí
Trong suốt 17 năm tồn tại (1917 – 1934) với 210 số, Nam Phong tạp chí đã giành một dung lượng không nhỏ để đăng tải các bài viết biên khảo, dịch thuật liên quan tới Nho học nói chung và Nho học Việt Nam nói riêng, ở cả phần chữ Hán (do Nguyễn Bá Trác chủ bút) và chữ Quốc ngữ (do Phạm Quỳnh chủ bút). Ta có thể tạm phân chia nội dung Nho học trên Nam Phong tạp chí thành sáu mảng: 1. Khảo luận về triết học tư tưởng Khổng Mạnh và Nho giáo (gồm các bài chuyên khảo của học giả Việt Nam và dịch thuật các bài viết của học giả người Pháp, Nhật và Trung Quốc). 2. Truyện ký về Khổng Tử và các danh Nho Trung Quốc, Việt Nam. 3. Khảo luận về vấn đề nhà Nho Việt Nam đầu thế kỷ XX. 4. Khảo về giáo dục Khoa cử Nho học. 5. Phiên dịch kinh điển Nho gia (gồm Luận ngữ (một phần), Mạnh tử (toàn văn)và Xuân thu Tả truyện (một phần), cùng các cách ngôn danh cú tuyển chọn từ thư tịch cổ). 6. Phiên dịch trước tác văn chương của các nhà Nho.
Một cách nhìn từ biển: Bối cảnh vùng duyên hải miền Bắc và Trung Việt Nam
Thông qua cái nhìn hướng biển, bài viết này nhằm đánh giá lại những quan niệm về biển vốn được coi là truyền thống của các học giả Việt Nam. Khu vực biển nói ở đây chính là khu mậu dịch thuộc vịnh Bắc Bộ, kéo dài từ đảo Hải Nam đến Bắc Champa theo đường biển, tới Vân Nam và Lào theo đường bộ. Sự tương tác lẫn nhau, cũng như các hoạt động thương mại của cư dân trong vùng giữ vai trò cốt yếu trong việc hình thành quốc gia Đại Việt. 
Về quan hệ của Đại Việt và Chân Lạp thế kỷ XI-XVI
(ĐHVH) Tóm tắt: Nếu như dưới thời Bắc thuộc, mối liên hệ giữa Đại Việt và Chân Lạp được mở đầu bằng các hoạt động liê minh quân sự và các hoạt động tiến cống của Chân Lạp với chính quyền An Nam đô hộ phủ thì từ thế kỷ XI, quan hệ hai nước bước sang thời kỳ mới với nhiều diễn biến đa dạng, phức tạp. Vào thời Lý, trogn quan hệ hai nước, nhiều hoạt động chính trị-bang giao đã diễn ra. Chân Lạp liên tục cử các phái bộ đến chính quyền Thăng Long (24 lần). Nhưng, giữa các lần "tiến cống" là 9 cuộc xung đột quân sự tại Nghệ An-vùng biên viễn của quốc gia Đại Việt. Dưới thời nhà Trần và Lê sơ, chính sử không ghi chép nhiều về quan hệ hai nước, nhưng chắc hẳn quan hệ của hai nước vẫn được tiếp tục duy trì mặc dù mức độ và cường độ không được đều đặn và thường xuyên như thời kỳ trước đó. 
Trí nhớ thực vật và trí nhớ khoáng chất: tương lai của sách
CHÚNG TA CÓ BA LOẠI TRÍ NHỚ. Thứ nhất: trí nhớ hữu cơ, cấu thành bởi máu và thịt, là loại trí nhớ do bộ não điều hành. Thứ hai: trí nhớ khoáng chất, theo nghĩa này, loài người đã biết hai loại: ngàn năm trước, đây là loại trí nhớ thể hiện qua các phiến đất nung và các Rốn-tru-đá (Obelisk) [2] , rất phổ cập ở đất nước này, trên đó người ta khắc các văn bản. Tuy nhiên, loại trí nhớ thứ hai này cũng là bộ nhớ điện tử của máy điện toán hiện nay, trên cơ sở silicon. Chúng ta còn biết một loại trí nhớ khác: trí nhớ thực vật, thể hiện qua thứ giấy cói đầu tiên, một lần nữa, rất phổ cập ở đất nước này, và sau đó thể hiện qua sách, làm bằng giấy. Bỏ qua sự thể là ở một giai đoạn nhất định, giấy da cừu của các bộ luật cổ thì có gốc hữu cơ, và tờ giấy đầu tiên được chế tạo từ da không phải từ gỗ. Để đơn giản vấn đề, tôi xin phép khi nói về trí nhớ thực vật, tức là để chỉ sách.
Right Tuyen sinh DH
TVTS
TSNK
THXT
Right - tuyen sinh SDH
Right - tuyen sinh VLVH
Right - NCVH
Right - Hợp tác quốc tế
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - Gallery
Right - NCVH
Right - Hợp tác quốc tế
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - Gallery
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 5
Lượt truy cập: 180.567