Đang thực hiện

Top banner
Chuyên đề
Lược khảo nội dung bàn về nhà nho Việt Nam đầu thế kỉ XX qua một số bài viết quốc ngữ trên Nam Phong tạp chí
Trong suốt 17 năm tồn tại (1917 – 1934) với 210 số, Nam Phong tạp chí đã giành một dung lượng không nhỏ để đăng tải các bài viết biên khảo, dịch thuật liên quan tới Nho học nói chung và Nho học Việt Nam nói riêng, ở cả phần chữ Hán (do Nguyễn Bá Trác chủ bút) và chữ Quốc ngữ (do Phạm Quỳnh chủ bút). Ta có thể tạm phân chia nội dung Nho học trên Nam Phong tạp chí thành sáu mảng: 1. Khảo luận về triết học tư tưởng Khổng Mạnh và Nho giáo (gồm các bài chuyên khảo của học giả Việt Nam và dịch thuật các bài viết của học giả người Pháp, Nhật và Trung Quốc). 2. Truyện ký về Khổng Tử và các danh Nho Trung Quốc, Việt Nam. 3. Khảo luận về vấn đề nhà Nho Việt Nam đầu thế kỷ XX. 4. Khảo về giáo dục Khoa cử Nho học. 5. Phiên dịch kinh điển Nho gia (gồm Luận ngữ (một phần), Mạnh tử (toàn văn)và Xuân thu Tả truyện (một phần), cùng các cách ngôn danh cú tuyển chọn từ thư tịch cổ). 6. Phiên dịch trước tác văn chương của các nhà Nho.
Một cách nhìn từ biển: Bối cảnh vùng duyên hải miền Bắc và Trung Việt Nam
Thông qua cái nhìn hướng biển, bài viết này nhằm đánh giá lại những quan niệm về biển vốn được coi là truyền thống của các học giả Việt Nam. Khu vực biển nói ở đây chính là khu mậu dịch thuộc vịnh Bắc Bộ, kéo dài từ đảo Hải Nam đến Bắc Champa theo đường biển, tới Vân Nam và Lào theo đường bộ. Sự tương tác lẫn nhau, cũng như các hoạt động thương mại của cư dân trong vùng giữ vai trò cốt yếu trong việc hình thành quốc gia Đại Việt. 
Về quan hệ của Đại Việt và Chân Lạp thế kỷ XI-XVI
(ĐHVH) Tóm tắt: Nếu như dưới thời Bắc thuộc, mối liên hệ giữa Đại Việt và Chân Lạp được mở đầu bằng các hoạt động liê minh quân sự và các hoạt động tiến cống của Chân Lạp với chính quyền An Nam đô hộ phủ thì từ thế kỷ XI, quan hệ hai nước bước sang thời kỳ mới với nhiều diễn biến đa dạng, phức tạp. Vào thời Lý, trogn quan hệ hai nước, nhiều hoạt động chính trị-bang giao đã diễn ra. Chân Lạp liên tục cử các phái bộ đến chính quyền Thăng Long (24 lần). Nhưng, giữa các lần "tiến cống" là 9 cuộc xung đột quân sự tại Nghệ An-vùng biên viễn của quốc gia Đại Việt. Dưới thời nhà Trần và Lê sơ, chính sử không ghi chép nhiều về quan hệ hai nước, nhưng chắc hẳn quan hệ của hai nước vẫn được tiếp tục duy trì mặc dù mức độ và cường độ không được đều đặn và thường xuyên như thời kỳ trước đó. 
Trí nhớ thực vật và trí nhớ khoáng chất: tương lai của sách
CHÚNG TA CÓ BA LOẠI TRÍ NHỚ. Thứ nhất: trí nhớ hữu cơ, cấu thành bởi máu và thịt, là loại trí nhớ do bộ não điều hành. Thứ hai: trí nhớ khoáng chất, theo nghĩa này, loài người đã biết hai loại: ngàn năm trước, đây là loại trí nhớ thể hiện qua các phiến đất nung và các Rốn-tru-đá (Obelisk) [2] , rất phổ cập ở đất nước này, trên đó người ta khắc các văn bản. Tuy nhiên, loại trí nhớ thứ hai này cũng là bộ nhớ điện tử của máy điện toán hiện nay, trên cơ sở silicon. Chúng ta còn biết một loại trí nhớ khác: trí nhớ thực vật, thể hiện qua thứ giấy cói đầu tiên, một lần nữa, rất phổ cập ở đất nước này, và sau đó thể hiện qua sách, làm bằng giấy. Bỏ qua sự thể là ở một giai đoạn nhất định, giấy da cừu của các bộ luật cổ thì có gốc hữu cơ, và tờ giấy đầu tiên được chế tạo từ da không phải từ gỗ. Để đơn giản vấn đề, tôi xin phép khi nói về trí nhớ thực vật, tức là để chỉ sách.
Từ bao giờ và bằng cách nào người Nhật thoát ra khỏi quỹ đạo tư tưởng của Trung Quốc?
Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc không thua gì Việt Nam. Cũng như ở ta, Khổng giáo đã từng là khuôn vàng thước ngọc chính thống trong tư tưởng của nước ấy. Nhưng người Nhật đã sớm ra khỏi quỹ đạo tư tưởng của Trung Quốc. Họ bắt đầu giải phóng tư tưởng của họ từ bao giờ? Bằng cách nào? Do trường phái nào? Bằng lý luận gì? Đó là câu hỏi mà tôi mong nhiều bạn sẽ cùng đặt ra với tôi, và bài viết này chỉ là một câu trả lời rất khiêm tốn.
Trung Quốc học ở Việt Nam ngày nay
Hiểu biết về thế giới quanh mình là một nhu cầu tự thân của con người, của các cộng đồng xã hội. Hiểu biết để mà có cách ứng xử phù hợp, để tồn tại, để mà phát triển. Nếu không hoặc ít hiểu biết sẽ gặp nhiều bất trắc và tai họa đến từ thế giới [tự nhiên và xã hội] quanh ta. Chúng ta ở cạnh Trung Quốc nhưng chúng ta đang có nhiều khoảng trống tri thức về họ. Điều đó là vô cùng tệ hại bởi nhiều điều tai quái và bất hạnh sẽ bất ngờ đến với ta từ họ. Thực  trạng ngành Trung Quốc học ở Việt Nam và những gợi ý là điều mà Gs. Ts Trần Ngọc Vương sẽ trình bày trong bài viết này.
Nhận xét về “An Nam đại quốc họa đồ”
Tên bản đồ này được ghi trân trọng bằng chữ Hán 安南大國畫圖 và bằng chữ quốc ngữ: An Nam đại quốc họa đồ và dịch ra tiếng LaTinh là Tabula Geographica imperii Anamitici. Nguyên bản họa đồ khá lớn, ngang 40, dọc 80cm, ấn hành theo cuốnNam Việt dương hiệp tự vị ( Dictionarium Anamitico – Latinum) mà tác giả là Giám mục Taberd, xuất bản tại Serampore (Ấn Độ) năm 1838.      Jean – Louis Tabrd (tên Việt là Từ) sinh tại Saint – Etienne. Quận Loire (Pháp) ngày 18/6/1794, gia nhập Hội Truyền giáo nước ngoài, trụ sở tai Paris (MEP), thụ phong linh mục ngày 27/7/1878. Ngày 7/11/1820, ông rời Pháp đến Đàng Trong – Việt Nam truyền giáo.
Trần Nhân Tông - Chế Mân và quan hệ Đại Việt - Champa
Quan hệ Đại Việt- Champa luôn là mối quan hệ đối kháng tay đôi. Khi thì Đại Việt tiến đánh bắt sống vua Chiêm, khi thì quân Chiêm đánh trả, đốt phá kinh thành Thăng Long. Từ bối cảnh rộng lớn hơn, lịch sử giữa các quốc gia luôn là lịch sử của những tranh chấp địa giới, lãnh thổ. Khi mạnh thì một triều đại sẽ sẵn sàng mở cuộc chiến tranh thị uy, hoặc xâm chiếm đất đai nước khác; khi yếu sẽ bị những nước mạnh hơn lấn lướt và tiêu diệt. Quan hệ Đại Việt- Champa cũng không phải là một ngoại lệ. 
Quan niệm của Thông diễn học về văn hóa
(ĐHVH) - Thông diễn học (Hermeneutics) là ngành học đi sâu thấu hiểu các loại văn bản. Khởi phát của Thông diễn học gắn liền từ khi con người có ngôn ngữ (language), và nhất là ngôn từ (words) và ngôn tự (written language). Thông diễn học bắt đầu phát triển rất mạnh vào thế kỷ thứ XX với những đại triết gia như Martin Heidegger (1889-1976), Hans-Georg Gadamer (1900-2002), Paul Ricoeur (1913-2005), và với những nhà thần học vĩ đại như Rudolph Bultmann (1884-), Karl Barth (1886-1968), Paul Tillich (1886-1965), Karl Rahner (1904-1985), Bernhard Lonergan (1904-1984), những sử gia thời danh như Oswald Spengler … Trong số đó, triết gia Heidegger, người được công nhận như là nhà tư tưởng của thế kỷ thứ 20, đã từng nhận định cho là "Triết học tự nó đã là thông diễn." Từ đây trường phái của Heidegger đã phát triển môn Thông diễn học thành một nền Thông diễn triết học (philosophical hermeneutics). Tiểu luận dưới đây đề cập đến những quan niệm chính yếu của Thông diễn học về văn hóa qua sự tổng thuật, phân tích của Rui Sampaio (University of  Azores). Xin trân trọng giới thiệu!
Báo chí - nhà báo và sự hình thành tầng lớp trí thức hiện đại đầu thế kỷ XX
Khái niệm trí thức hiện đại ở đây được hiểu trong sự đối nghĩa với trí thức - kẻ sĩ (sẽ được giới thuyết cụ thể trong phần tiếp theo của bài viết) trong xã hội Việt Nam truyền thống. Sự hiện diện của tầng lớp trí thức hiện đại, trên thực tế, mới chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Right Tuyen sinh DH
Right - tuyen sinh SDH
Right - tuyen sinh VLVH
Right - NCVH
Right - Hợp tác quốc tế
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - Gallery
Right - NCVH
Right - Hợp tác quốc tế
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - Gallery
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 6
Lượt truy cập: 53.828