Đang thực hiện

Top banner

Các biện pháp tăng cường tương tác ngang hàng trong lớp học ngoại ngữ

Đăng ngày: 11/06/2019

(ĐHVH HN) - Dạy học thông qua tương tác là phương pháp giảng dạy hiện đại khắc phục được nhiều nhược điểm của phương pháp giáo dục truyền thống-phương pháp truyền thụ một chiều. Vì thế mà phương pháp dạy học này được áp dụng phổ biến trên khắp thế giới trong nhiều năm qua. Việc ứng dụng tương tác trong giảng dạy ngoại ngữ là rất cần thiết trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy ngoại ngữ. Nó làm tăng tính tự chủ và độc lập của người học trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ và tạo môi trường học ngoại ngữ một cách tự giác. Trong các mối quan hệ tương tác, tương tác ngang hàng (tương tác người học- người học) được xem là phương pháp mang lại nhiều lợi ích tạo cơ hội cho sinh viên tiếp thu và thực hành ngôn ngữ một cách trực tiếp, giúp sinh viên phát triển các kỹ năng ngôn ngữ. Tuy nhiên để tổ chức tương tác ngang hàng trong lớp học sao cho hiệu quả là nhiệm vụ thách thức đối với giáo viên. Trong bài viết này, tác giả đề cập đến một số vấn đề chủ yếu và biện pháp khắc phục giúp tương tác ngang hàng đạt hiệu quả cao.
Vấn đề 1: Sinh viên không muốn nói
Có nhiều lý do tại sao sinh viên không muốn giao tiếp với nhau. Một số sinh viên đã quen với phương pháp truyền thụ một chiều ở cấp học phổ thông, tức là giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo. Họ hiếm khi được tham gia các hoat động tương tác trên lớp mà chủ yếu thực hiện hoạt động học tập cá nhân. Vì thế, họ nghi ngờ về giá trị mà hoạt động này mang lại đối với việc học của họ và thể hiện thái độ miễn cưỡng khi được yêu cầu tương tác với bạn học trên lớp. Một số sinh viên khác thì sợ không dám nói ngôn ngữ mà mình chưa thành thạo trước nhiều bạn trong lớp. Bởi vì họ sợ mắc lỗi và không muốn người khác nhận ra mình thiếu hiểu biết về vấn đề đang được thảo luận. Một số khác nữa thì không có động cơ để nói.
Biện pháp khắc phục
Giúp sinh viên hình dung bản thân mình là người sử dụng ngôn ngữ
Nếu sinh viên không cố gắng nói trong lớp, điều quan trọng là giáo viên phải nói cho họ biết về lợi ích của tương tác ngang hàng đối với việc học ngoại ngữ và hỗ trợ để họ có thể tương tác với nhau. Ngoài ra, giáo viên nên giảng giải cho sinh viên biết mục đích của việc học ngoại ngữ là để giao tiếp chứ không phải chỉ để biết cách sử dụng các quy tắc ngữ pháp. Với tư cách là người đã trải qua việc học ngoại ngữ trên lớp, giáo viên có thể chia sẻ kinh nghiệm của mình, đặc biệt là chỉ cho sinh viên cách tương tác với bạn bè trong lớp, giúp nâng cao khả năng sử dụng ngoại ngữ một cách hiệu quả cho sinh viên. Ngoài ra, giúp họ nuôi dưỡng động cơ trở thành người sử dụng ngoại ngữ thành thạo trong tương lai, chứ không phải học là để qua kỳ thi hay chỉ để bổ sung thêm tín chỉ.
Đối với những sinh viên học ngoại ngữ để qua kỳ thi hay để hoàn thành yêu cầu bắt buộc của chương trình học thì giáo viên có thể tạo cho họ viễn cảnh về một công việc tốt hay nhiều lợi ích về giải trí mang lại khi họ nói thành thạo ngoại ngữ. Giáo viên có thể đưa ra một vài tấm gương về những nhà kinh doanh hay chính trị hoặc nghệ sĩ thành công nhờ nói thành thạo ngoại ngữ. Sau đó thiết kế một hoạt động tương tác nhóm  để sinh viên tìm hiểu về những người này và chia sẻ những điều mà họ học được từ những tấm gương này.
Dạy và làm mẫu cho sinh viên các kỹ năng tương tác
Khi sinh viên hiểu được giá trị của tương tác ngang hàng, thì giáo viên không cần phải động viên, khích lệ mà họ sẽ tự giác tham gia các hoạt động tương tác trên lớp. Tuy nhiên, giáo viên cần phải hỗ trợ họ để việc tương tác diễn ra liên tục. Giáo viên phải hướng dẫn cho họ cách tương tác. Theo Kim & McDonough (2011) việc quan sát các nhóm sinh viên tương tác với nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập sẽ giúp cho sinh viên hiểu được cách giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ thứ hai.
Giáo viên có thể quay phim các nhóm tương tác của các sinh viên khóa trước có trình độ cao hơn. Hoặc có thể yêu cầu một số nhóm tương tác tốt làm mẫu cho cả lớp. Trong khi tương tác, giáo viên có thể yêu cầu họ tạm dừng để chỉ cho cả lớp thấy những điểm rât tốt của họ. Ngoài ra, giáo viên nên dạy cho sinh viên các chiến lược tương tác, chẳng hạn cung cấp cho họ các cụm từ sử dụng để bắt đầu vào các chủ đề, thay đổi chủ đề, chỉ ra được sự hiểu nhầm, và đưa ra phản hồi. Sau đây là một số các cụm từ có thể sử dụng trong tương tác:
  • Narrowing focus: ‘I don’t understand this word’, ‘Let’s look at . . .’
          Giới hạn sự tập trung: Tôi không hiểu từ này, ’Hãy nhìn vào. . .
  • Requesting clarification: ‘What does X mean?’
           Yêu cầu làm rõ: ‘X X có nghĩa là gì?’
  • Providing feedback: ‘I think we say it like . . . ’
           Đưa ra thông tin phản hồi:’Tôi nghĩ rằng chúng tôi nói như thế này. . . ‘
  • Requesting confirmation: ‘Do you mean . . . ?’
          Yêu cầu xác nhận: ‘Có phải ý của bạn là. . . ?’
  • Requesting input: ‘What do you think of….?’
          Yêu cầu đầu vào: ‘Bạn nghĩ gì về…’
Lựa chọn các hoạt động hay chủ đề tương tác phù hợp với sở thích của sinh viên
Giáo viên nên lựa chọn các hoạt động và chủ đề mà cả lớp hứng thú. Họ chắc chắn sẽ tương tác với nhau nếu họ thấy các hoạt động tương tác  thú vị. Ngay từ đầu khóa học, giáo viên nên tiến hành tìm hiểu và phân tích nhu cầu của sinh viên để thiết kế các hoạt động tương tác ngang hàng và cung cấp các chủ đề thảo luận yêu thích đối với sinh viên. Mặc dù nội dung giảng dạy của giáo viên được thiết kế sẵn và cố định trong kế hoạch chương trình giảng dạy, giáo viên vẫn có thể thiết kế được các hoạt động học tập khác nhau cho sinh viên tương tác. Giáo viên nên theo dõi sự tham gia của họ trong các hoạt động khác nhau ở trên lớp. Giáo viên cần quan sát để xem liệu sinh viên có thực sự hứng thú và tham gia tích cực vào các hoạt động hợp tác hay các trò chơi mang tính cạnh tranh trên lớp. Nhiều sinh viên sẵn sàng tham gia vào các hoạt động ngắn giống như trò chơi, nhưng lại tỏ ra hứng thú hơn với các hoạt động tương tác gắn liền với  mục tiêu học tập hay mục đích nghề nghiệp của họ (Van den Branden, Van Gorp & Verhelst, 2005).
Giáo viên nên để cho sinh viên được lựa chọn các chủ để thảo luận, tài liệu tham khảo hoặc phương pháp thực hiện các hoạt động học tập. Điều này sẽ khiến sinh viên chủ động và hứng thú tham gia các hoạt động tương tác trên lớp để đạt được kết quả học tập tốt.
Hỗ trợ để sinh viên sẵn sàng trình bày ý kiến của mình
Giáo viên nên quan tâm hỗ trợ để sinh viên tự nguyện tham gia vào các hoạt động tương tác trên lớp và sẵn sàng trình bày ý kiến của bản thân. Nếu như cùng một lúc sinh viên phải suy nghĩ xem mình sẽ nói cái gì và nói như thế nào, họ sẽ cảm thấy bị choáng ngợp và quyết định từ bỏ. Vì thế, giáo viên nên cho họ thời gian để động não và tự suy ngẫm trước những chủ đề mới mẻ để họ có đủ ý tưởng trình bày, rồi mới yêu cầu họ tham gia tương tác với các bạn trong nhóm. Khi họ đã suy nghĩ, rồi ghi vắn tắt và đọc nhẩm trong miệng những điều họ sắp trình bày, thì chắc chắn họ sẽ nói trôi chảy hơn. Ngoài ra, giáo viên nên khuyến khích họ chuẩn bị và đọc các tài liệu tham khảo về các chủ đề thảo luận. Bởi các tài liệu như thế này cung cấp cho sinh viên từ vựng, cấu trúc cũng như các ý tưởng để sinh viên trình bày một cách lưu loát.
Vấn đề 2: Sinh viên rời khỏi hoạt động tương tác
Bất kỳ giáo viên nào cũng mong muốn tất cả sinh viên của mình tham gia tích cực vào các hoạt động học tâp tương tác trên lớp và không muốn bất kỳ sinh viên nào rời khỏi nhóm, rồi lén lút nói chuyện riêng hay sử dụng điện thoại để truy cập vào các tài khoản mạng xã hội. Vì thế, để khiến cho họ tham gia tích cực và liên tục vào hoạt động tương tác trên lớp đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư kỹ lưỡng cho các hoạt động đó. Giáo viên phải thiết kế các hoạt đông tương tác giữa người học với nhau mà gây hứng thú cho sinh viên và thúc đẩy họ  tham gia cho đến khi hoàn thành mục tiêu học tâp.
Biện pháp khắc phục
Thiết kế các hoạt động tương tác gắn liền với nhu cầu học tập, nghề nghiệp hay nhu cầu thực tế trong cuộc sống của sinh viên
Sinh viên sẽ có động cơ tham gia tương tác khi nhìn thấy mối liên hệ giữa nhiệm vụ học tập trên lớp với cuộc sống bên ngoài lớp học (Van den Branden, et al., 2005). Các hoạt động liên quan rõ ràng đến các lĩnh vực khác trong chương trình giảng dạy chắc chắn sẽ khiến cho sinh viên tham gia một cách nghiêm túc. Chẳng hạn, giáo viên có thể kết hợp các chủ đề thảo luận thuộc lĩnh vực mình giảng dạy với các lĩnh vực của môn học khác để sinh viên  hiểu được sự liên quan giữa môn học này với môn học khác (Adams & Nik, 2014).
Đối với người học trưởng thành, việc thiết kế các hoạt động học tập gắn liền với nghề nghiệp và các nhu cầu thực tế khác trong cuộc sống tạo cho sinh viên có động cơ tham gia để hoàn thành nhiệm vụ. Đối với đối tượng là sinh viên thì họ sẽ có động cơ tham gia các hoạt động mà phản ánh nhu cầu về ngôn ngữ trong cuộc sống đời thực như: cách đặt món ăn trong nhà hàng, đăng ký cho con đi học, thảo luận về việc sữa chữa với chủ nhà (Van Avermaet & Gysen, 2006). Đối với những sinh viên có nhu cầu sử dụng ngôn ngữ thứ hai để đáp ứng yêu cầu của công việc thì giáo viên phải thiết kế các hoạt động thực hành ngôn ngữ trong môi trường làm việc. Có như thế, sinh viên mới có động cơ và sẵn sàng tham gia tương tác. Ví dụ, giáo viên có thể thiết kế một hoạt động mà bối cảnh là cuộc họp kinh doanh để sinh viên tương tác với nhau với tư cách là những nhà kinh doanh.
Sử dụng các hoạt động nói đòi hỏi sự tập trung cao độ của sinh viên
Một hoạt động nói đòi hỏi sự tập trung hoàn toàn của sinh viên là hoạt động có có đầu ra. Những hoạt động như vậy sẽ thúc đẩy sinh viên tham gia một cách có ý nghĩa và liên tục đến khi đạt được kết quả. Nếu giáo viên yêu cầu sinh viên thảo luận tự do, thì rất có thể một số sinh viên sẽ không chú ý tham gia mà dùng tiếng mẹ đẻ để nói chuyện riêng hoặc sử dụng điện thoại. Bởi vì, họ biết rằng giáo viên không thể theo dõi tất cả họ cùng một lúc. Tuy nhiên, nếu sinh viên được yêu cầu làm việc cùng nhau hướng tới một mục tiêu rõ ràng, chẳng hạn như giải quyết một vấn đề, đưa ra quyết định hoặc tạo ra một cái gì đó (như một bức tranh, mô hình hoặc bài thuyết trình), họ sẽ tham gia một cách nghiêm túc từ đầu đến cuối để đưa ra các ý kiến về chủ đề thảo luận để có thể trình bày trước lớp (Adams & Ross-Feldman, 2008). Cách thức để đảm bảo sinh viên có được sản phẩm sau khi kết thúc thảo luận đó là biến giai đoạn thuyết trình thành hoạt động (Willis & Willis, 2007) mà ở đó sinh viên phải chia sẻ công việc của họ với một nhóm gồm nhiều sinh viên hơn hoặc với cả lớp. Điều này đặc biệt hiệu quả khi tất cả các cặp tương tác cùng nhau làm việc để hoàn thành từng nhiệm vụ khác nhau của một dự án lớn (ví dụ, viết các phần của một tập quảng cáo hoặc bức thư thông báo, đọc hiểu các đoạn khác nhau trong một văn bản). Nếu sinh viên biết rằng công việc của họ sẽ được chấm điểm họ sẽ tham gia tương tác một cách nghiêm túc để đạt kết quả học tập tốt nhất.
Xây dựng các nguyên tắc cho hoạt động tương tác
Có một số yếu tố sau đây có thể gây ảnh hưởng tích cực đến sinh viên khiến sinh viên tham gia nghiêm túc vào các hoạt động hợp tác:
  • Giới hạn thời gian thảo luận khiến sinh viên khẩn trương làm việc cùng nhau để hoàn thành nhiệm vụ.
  •  Thay đổi cách chia nhóm thảo luận hoặc thay đổi môi trường làm việc (bằng cách di chuyển đồ đạc xung quanh, làm việc ở các vị trí khác nhau trong lớp học, hoặc thậm chí chuyển sang một không gian khác thư viện hoặc phòng thí nghiệm).
  • Phân biệt các mục tiêu nhiệm vụ đối với các sinh viên có trình độ khác nhau có thể giúp họ thực hiện tốt nhiệm vụ học tập. Các cặp sinh viên có trình độ cao hơn sẽ cảm thấy nhàm chán nếu được yêu cầu tham gia các hoạt động quá đơn giản. Ngược lại, những sinh viên yếu sẽ từ bỏ nếu hoạt động quá khó. Vì thế xây dựng các hoạt động phù hợp với trình độ khác nhau của sinh viên trong lớp học sẽ tạo cho họ động cơ tiếp tục nhiệm vụ (Blaz, 2006). Chẳng hạn, giáo viên yêu cầu sinh viên trình độ cao hơn thực hiện một hoạt động mà không có giải pháp rõ ràng (ví dụ: xây dựng lịch trình trong ngày cho một người có quá nhiều việc bắt buộc phải hoàn thành, chỉ ra được công việc nào cầu ưu tiên và đưa ra sự lựa chọn). Đối với sinh viên có trình độ thấp hơn thì giáo viên phải hướng dẫn và hỗ trợ nhiều hơn để họ hiểu được nhiệm vụ được giao và có thể tham gia tương tác để hoàn thành nhiệm vụ. Ví dụ, giáo viên đưa cho họ các bức tranh và yêu cầu họ tương tác với các bạn trong nhóm để tường thuật lại nội dung của bức tranh đó. Tuy nhiên, giáo viên có thể yêu cầu sinh viên khá hơn trước tiên phải sắp xếp lại các sự kiện theo đúng trật tự xảy ra và kể lại toàn bộ câu chuyện.
Vấn đề 3: Sinh viên sử dụng tiếng mẹ đẻ để tương tác
Đối với nhiều giáo viên trên khắp thế giới dạy ở các lớp ngoại ngữ , việc sinh viên trong lớp cùng nói chung ngôn ngữ mẹ đẻ là một rào cản đối với việc tổ chức các hoạt động tương tác cho họ. Nếu lợi ích của tương tác ngang hàng là tạo cho sinh viên có cơ hội học tập thực sự và học lẫn nhau thông qua nỗ lực giao tiếp bằng ngôn ngữ đích, thì chỉ cần sinh viên sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp với nhau thì những lợi ích này sẽ không thể đạt được. Các giáo viên dạy ở các lớp với số lượng sinh viên đông thì cảm thấy không thể giám sát sinh viên đủ chặt chẽ để họ không sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ mà sử dụng ngôn ngữ đích để giao tiếp.
Biện pháp khắc phục
Cho phép sinh viên được sử dụng tiếng mẹ đẻ
Không phải việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong khi tương tác lúc nào cũng gây ảnh hưởng tiêu cực. Nhờ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, sinh viên trong nhóm có thể giúp các bạn hiểu được các hướng dẫn đối với hoạt động tương tác, điều này có thể khiến họ tự nguyện tham gia vào tương tác trước khi họ mất động cơ tham gia (giáo viên cũng có thể sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ một cách ngắn gọn để hướng dẫn rõ ràng những gì sinh viên phải làm). Đôi khi việc sử dụng ngôn ngữ thứ nhất khiến người học có thể giải thích cặn kẽ các khía cạnh của ngôn ngữ thứ hai cho các bạn khác giúp họ hiểu sâu hơn (Swain và Lapkin, 1998). Cách sử dụng này có thể thúc đẩy việc học ngôn ngữ thông qua tương tác. Tuy nhiên, việc sử dụng quá nhiều ngôn ngữ mẹ đẻ sẽ hạn chế cơ hội thực hành ngôn ngữ đích, cản trở việc thành thạo ngôn ngữ đích của sinh viên.
Hỗ trợ sinh viên sử dụng ngôn ngữ đích để giao tiếp
Giáo viên phải giám sát sinh viên sử dụng ngôn ngữ càng nhiều càng tốt. Nếu sinh viên chuyển hướng sang nói tiếng mẹ đẻ thì giáo viên hãy hỗ trợ họ trong một vài lượt đàm thoại, cung cấp cho họ những từ ngữ và cấu trúc mà họ không nhớ để họ có thể giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ đích. Giáo viên cũng có thể hướng dẫn sinh viên bằng cách tương tác mẫu với cả lớp trước khi họ tiến hành tương tác tương tự trong nhóm. Điều này giúp sinh viên hiểu được cách thực hiện nhiệm vụ và cung cấp cho họ các ví dụ về các lối diễn đạt bằng ngôn ngữ đích để họ bắt chước sử dụng trong tương tác tương tự (Long, 2014).
Kết hợp hoạt động đọc và viết
Một giải pháp khác là thiết kế các tương tác ngang hàng kết hợp đọc, viết với nói và nghe. Nhưng làm thế nào để có thể kết hợp các kỹ năng này trong các hoạt động tường thuật. Nếu người học được cung cấp một số bức tranh và phải kể cho nhau nghe một câu chuyện về các bức tranh này, thì cách dễ dàng đối với họ là sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ để kể cho nhau nghe. Nhưng nếu họ được yêu cầu cộng tác với nhau để viết thành một câu chuyện bằng ngôn ngữ đích, họ bắt buộc phải giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ đó thì mới có thể viết được. Mục đích của hoạt động này không chỉ là truyền đạt nội dung mà đòi hỏi người học phải tạo ra được sản phẩm ngôn ngữ hữu hình của giao tiếp. Kết hợp cả đọc và viết sẽ làm thay đổi cách người học tham gia vào hoạt động này.  Sinh viên sẽ dành nhiều thời gian hơn để thảo luận về ngữ pháp và từ vựng và tiếp tục các cuộc thảo luận này cho đến khi họ tìm ra cách giải quyết vấn đề, chứ không đơn giản bỏ qua (Adams, 2006; Adams & Ross-Feldman, 2008).
Vấn đề 4: Một số sinh viên tương tác với nhau không hiệu quả
Học thông qua tương tác ngang hàng là một bối cảnh xã hội, có nghĩa là các động cơ xã hội đóng một vai trò quan trọng trong giúp tương tác ngang hàng hiệu quả. Động cơ nhóm kém có thể gây ra một số khó khăn. Một sinh viên nhút nhát có thể bị áp đảo bởi một bạn sôi nổi cùng nhóm vì thế họ sẽ không có nhiều ý kiến đóng góp. Hai sinh viên cạnh tranh với nhau có thể biến một hoạt động  hợp tác thành một trận chiến. Đôi khi, các sinh viên nam không muốn làm việc với sinh viên nữ, hoặc ngược lại. Sinh viên đến từ các nền văn hóa khác nhau có thể đấu tranh để làm việc cùng nhau. Sinh viên từ các nhóm xã hội khác nhau có thể miễn cưỡng khi được được yêu cầu hợp tác với nhau. Mặt khác, động cơ tương tác ngang hàng tích cực có thể thúc đẩy việc học. Một sinh viên giỏi hơn có thể giúp bạn trong nhóm thể hiện ý kiến của mình. Tương tác ngang hàng trên lớp tạo cơ hội cho sinh viên thực hành ngôn ngữ có giá trị (Storch, 2011).
Biện pháp khắc phục
Chú ý đến các động cơ xã hội trong lớp học
Cố gắng theo dõi chặt chẽ cách các sinh viên tương tác với nhau để xem họ có khích lệ nhau không, chỉ trích nhau không hay chỉ im lặng. Hãy nhớ rằng một sinh viên có tính cạnh tranh quá mức và thể hiện tiêu cực trong nhóm này nhưng có thể lại thực sự hữu ích trong một nhóm khác (Kim & McDonough, 2008; Watanabe & Swain, 2007). Giáo viên nên ghi lại những cặp tương tác không thành công và ghi lại thời điểm sinh viên tương tác tốt với nhau. Điều này sẽ giúp giáo viên tổ chức tốt các hoạt động tương tác giữa sinh viên với nhau.
Thay đổi nhóm
Giáo viên thường mặc định để cho sinh viên chọn nhóm của mình. Sinh viên có xu hướng chọn những người mà họ cảm thấy thoải mái nhất - không nhất thiết là những người sẽ giúp họ học hỏi nhiều nhất. Tuy nhiên là giáo viên, người dạy phải cân nhắc việc chia nhóm dựa vào yếu tố đó là sinh viên có thể hỗ trợ nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách tốt nhất. Giáo viên nên tránh việc lúc nào cũng ghép những sinh viên giỏi với những sinh viên kém hơn. Sinh viên học kém cần có cơ hội để tự giải quyết các vấn đề thay vì chỉ dựa vào sự giúp đỡ từ người khác, và sinh viên giỏi hơn có thể thúc đẩy lẫn nhau để học tập tốt hơn. Giáo viên đôi khi mặc định ghép sinh viên có động cơ học tập cao với sinh viên có động cơ thấp với hy vọng sẽ tăng cường sự tham gia của sinh viên có động cơ thấp. Trong thực tế, điều này cũng có khả năng khiến cho sinh viên có động cơ cao không muốn tham gia hoặc không tiếp tục tương tác nữa vì giáo viên sử dụng họ làm phương tiện thúc đẩy những sinh viên có động cơ thấp sẵn sàng tham gia tương tác (Dörnyei & Kormos, 2000).
Việc thay đổi từ tương tác theo nhóm sang tương tác theo cặp hay thay đổi việc lựa chọn thành viên trong nhóm có thể tạo ra nhiều cơ hội tham gia hơn cho sinh viên. Các hoạt động mà sinh viên có thể thay đổi nhóm thường xuyên có thể làm tăng động cơ tham gia tương tác cho sinh viên.
Kết luận
Tương tác ngang hàng đóng vai trò quan trọng trong dạy và học ngoại ngữ, thúc đẩy quá trình học tập và tạo nên hiệu quả cao trong học tập khi người học tham gia vào các nhóm thảo luận. Ngoài ra, tương tác giữa người học với nhau làm tăng tính chủ động tư duy, sự sáng tạo và khả năng ghi nhớ của người học trong quá trình học tập. Nó còn làm tăng thêm hứng thú học tập đối với người học, giúp người học phát triển các kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ. Tuy nhiên trong quá trình tổ chức các hoạt động tương tác giữa người học với nhau, giáo viên gặp không ít khó khăn. Tác giả hy vọng những thông tin đưa ra trong bài viết này sẽ giúp ích cho giáo viên khi tổ chức tương tác cho sinh viên.
--
 
Tác giả: Th.S Mai Lan Anh
(Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Quốc tế)
 --


Tài liệu tham khảo
  1. Adams, R. (2004). Learner-learner interaction: Implications for second language acquisition. Washington, DC: Georgetown University.
  2. Dörnyei, Z. (2007). Creating a motivating classroom environment. In Cummins, J. & Davison, C., (Eds.), International Handbook of English Language Teaching, Vol. 2. New York, NY: Springer
  3. Littlewood, W. (1981). Communicative Language Teaching. Cambridge: Camridge
University Press.
  1. Macky, A. (2007). Conversational Interaction in Second Language Acquisition. Oxford: Oxford University Press.
  2. Mc Cafferty, S. G., Jacobs, G. M, & Dasilva Iddings, A. C. (2006). Cooperative Learning and Second Language Teaching. New York: Cambridge University Press.
  3. Tim S.Roberts (2003), Online collaborative learning, Published in the United States of America by Information Science Publishing.

 
 
 
 
Lượt xem: 604
Xem nhiều
Right Tuyen sinh DH
TSNK
Right - tuyen sinh SDH
Right - tuyen sinh VLVH
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Right - NCVH
Right - Thu vien so
Right - middle
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 25
Lượt truy cập: 1.810.927